Kết nối trí tuệ vì sự phát triển bền vững * Connecting Think - Tank for sustainable development

CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH – NHỮNG KHÍA CẠNH XÃ HỘI VÀ PHÁP LÝ

Tóm tắt: Trên cơ sở làm rõ khái niệm chuyển giới và chuyển đổi giới tính, bài viết phân tích một số khía cạnh của việc chuyển đổi giới tính từ góc độ xã hội và pháp lý, nêu quan điểm của cá nhân trong cách tiếp cận điều chỉnh pháp luật về chuyển đổi giới

 

                                                         

 TS. Nguyễn Phương Lan*

 

Trong cuộc sống hiện nay, những người thuộc nhóm LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender) ngày càng có tiếng nói và thể hiện vị trí của mình trong xã hội. Người chuyển giới là người thuộc cộng đồng LGBT. Việc chuyển đổi giới tính chỉ đặt ra đối với người chuyển giới. Việc xác định rõ thế nào là người chuyển giới và chuyển đổi giới tính có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức về nhóm người này cũng như các quyền của họ để trên cơ sở đó pháp luật có thể điều chỉnh một cách chính xác, hợp lý các quyền của họ phù hợp với thực tế đời sống xã hội.

 

Người chuyển giới (transgender) là những người có bản dạng giới, thể hiện giới không giống với những chuẩn mực tương ứng với giới tính sinh học của họ. Theo tài liệu chính thức của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) thì “bản dạng giới là cảm nhận bên trong của một người về việc mình là nam hay là nữ hay là một giới nào khác. Thể hiện giới là cách một người cho thấy bản dạng giới của mình thông qua hành vi, quần áo, kiểu tóc, giọng nói hay các đặc điểm trên cơ thể người đó” (American Psychological Association, 2012). Người chuyển giới có thể có nhu cầu và thực hiện việc chuyển đổi giới tính qua phẫu thuật nhưng cũng có thể chỉ có nhu cầu khẳng định giới tính mà mình mong muốn qua cách thể hiện giới (qua cách ăn mặc, đầu tóc, quần áo, giọng nói, cách đi đứng, ứng xử…). Người chuyển giới không nhất thiết phải thực hiện các biện pháp can thiệp để thay đổi giới tính sinh học có từ khi sinh ra.

Người chuyển giới có giới tính sinh học lúc sinh ra hoàn toàn bình thường, hoàn chỉnh, nhưng họ lại có cảm nhận về giới tính của mình không trùng khớp với giới tính sinh học mà họ đang có. Người chuyển giới có thể là người chuyển giới nam (từ nữ sang nam: FTM) và người chuyển giới nữ (từ nam sang nữ: MTF).

Như vậy có thể hiểu người chuyển giới là người có giới tính sinh học hoàn thiện khi sinh ra nhưng có cảm nhận và mong muốn được sống với giới tính khác với giới tính sinh học hiện có của mình.

 

* Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội

Chuyển đổi giới tính (transsexual) là sự thể hiện và quá trình thực hiện các liệu pháp khác nhau nhằm làm thay đổi cơ thể sinh học hiện có theo giới tính mong muốn của người chuyển giới. Quá trình thực hiện các liệu pháp can thiệp có thể có mức độ khác nhau: điều trị hoóc – môn, phẫu thuật ngực, phẫu thuật bộ phận sinh dục (phẫu thuật cắt bỏ bộ phận sinh dục hoặc tạo hình bộ phận sinh dục). Việc mong muốn thực hiện biện pháp can thiệp ở mức độ nào tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người, trên cơ sở cân nhắc một cách toàn diện, đầy đủ các yếu tố cần thiết.

Có quan điểm cho rằng: “Người chuyển đổi giới tính là người mong muốn hoặc đã trải qua phẫu thuật để đạt đến sự trùng khớp giữa cơ quan sinh dục hoặc bản dạng giới thực sự trong não của họ” (Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình, Mai Thanh Tú, 2012, tr.14).  Với khái niệm trên, cần thấy rằng người chỉ có mong muốn phẫu thuật y học nhưng chưa thực hiện bất cứ một sự can thiệp y khoa nào thì không có cơ sở để xác định là người chuyển đổi giới tính, mặc dù họ có thể là người chuyển giới. Cũng tương tự như vậy, những người có mong muốn thể hiện giới khác với giới tính sinh học đã có của mình qua cách đi đứng, ứng xử, ăn mặc…là người chuyển giới nhưng không được coi là người chuyển đổi giới tính. Do đó, theo tôi, quan điểm về người chuyển đổi giới tính như trên chưa thật chính xác.

Người chuyển giới và người chuyển đổi giới tính là khác nhau. Khi người chuyển giới thực hiện các liệu pháp can thiệp y học khác nhau nhằm thay đổi cơ thể sinh học đã có của mình từ khi sinh ra sao cho phù hợp với giới tính mong muốn mới được coi là người chuyển đổi giới tính.

Việc thực hiện những biện pháp can thiệp về y học ở các mức độ khác nhau đưa đến sự thay đổi nhất định về cơ thể của người chuyển giới nhưng chính vì thế sẽ dẫn đến sự không phù hợp giữa cơ thể của họ với các giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân, thẻ căn cước, hộ chiếu… Mặc dù đã thực hiện những sự can thiệp, điều trị y học nhưng người chuyển giới vẫn chưa được công nhận đã chuyển đổi sang giới tính mới mong muốn, nếu không được công nhận về mặt pháp lý. Do đó, việc công nhận về mặt pháp lý gắn với những thay đổi về y học trên cơ thể của người chuyển giới sau khi đã thực hiện những liệu pháp can thiệp nhất định mới đảm bảo các quyền cơ bản của người chuyển giới được thực hiện với tư cách mới trong cuộc sống.

Như vậy, chuyển đổi giới tính không chỉ là sự can thiệp về mặt y học nhằm làm thay đổi những đặc điểm giới tính sẵn có của một người mà còn bao gồm việc được công nhận về mặt pháp lý những yếu tố gắn liền với nhân thân, các quyền và nghĩa vụ tương ứng với giới tính mới được chuyển đổi của người đó. Điều đó đem lại ý nghĩa thiết thực đối với người chuyển giới và mới là điều mà người chuyển giới thật sự cần thiết, khao khát.

Tuy nhiên, việc thừa nhận về mặt pháp lý những can thiệp y học nhằm làm thay đổi đặc điểm giới tính sinh học mà người chuyển giới đã có từ khi sinh ra và trên cơ sở đó làm thay đổi các thông tin về nhân thân cũng như các quyền khác của người chuyển giới tùy thuộc vào quan điểm, cách tiếp cận để giải quyết vấn đề. Điều quan trọng nhất trong vấn đề này là với những can thiệp y học ở mức độ nào thì một người từ giới tính này được công nhận là đã chuyển đổi sang một giới tính mới về mặt pháp lý. Điều đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, nhận thức, phong tục tập quán, tôn giáo, pháp luật trong từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia.

Như vậy, chuyển đổi giới tính được hiểu là quyền của người chuyển giới, được thực hiện các thủ tục y khoa và thủ tục pháp lýtrên cơ sở tự nguyện nhằm làm thay đổi giới tính sinh học hiện có của mình cho phù hợp với bản dạng giới của họ.

Việc chuyển đổi giới tính được nhìn nhận, xem xét từ các góc độ khác nhau, trước hết là từ góc độ xã hội và pháp lý.

- Thứ nhất, chuyển đổi giới tính là nhu cầu tự thân, tự nhiên của con người.

Giới tính sinh học của một người (biological sex/sex) được thể hiện qua hoóc môn giới tính (testosterone và estrogene), nhiễm sắc thể giới tính, cấu trúc bộ phận sinh dục trong và ngoài. Với đa số mọi người, các yếu tố trên dẫn đến định hình một người là nam hay nữ ngay từ khi sinh ra và chi phối đến xu hướng tính dục của họ. Tuy nhiên, ở một số người mặc dù có sự hoàn chỉnh của các yếu tố chi phối giới tính sinh học, nhưng lại có mong muốn, khát vọng được sống với giới tính khác với giới tính sinh học hiện có của mình. Người chuyển giới có nhu cầu, đòi hỏi biểu hiện ra bên ngoài giới tính mong muốn của mình một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất, để xã hội có thể công nhận họ với giới tính mong muốn đó. Điều đó xuất phát từ nhu cầu, khát vọng tự nhiên của người chuyển giới. Hiện nay chưa có sự lý giải nào về cơ sở khoa học của nhu cầu muốn khẳng định lại giới tính khác với giới tính sinh học đã có ở người chuyển giới. Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng việc chuyển giới có nguồn gốc từ những yếu tố sinh học phức tạp và nó là bẩm sinh (PFLAG Việt Nam, 2013, tr.8). Nhu cầu được chuyển đổi sang giới tính mong muốn khác với giới tính sinh học hiện có xuất phát từ suy nghĩ, tình cảm của người chuyển giới nhằm trả lời cho câu hỏi: “Tôi là ai?”. Căn nguyên của việc muốn chuyển đổi giới tính chưa được làm rõ. Có quan điểm cho rằng “đó có thể là kết quả của việc bào thai được bao bọc bởi hoóc-môn của một giới tính khác khi còn nằm trong tử cung, hoặc cũng có thể là do sự biến đổi gen tự phát” (PFLAG Việt Nam, 2013, tr.9). Nhu cầu chuyển giới hay nói cách khác là nhận thức về bản dạng giới của người chuyển giới là nhu cầu tự nhiên, do bẩm sinh. Nhu cầu đó tồn tại một cách tự nhiên ở người chuyển giới trong quá trình tự nhận biết về chính mình, làm cho họ day dứt, đau khổ, bứt rứt, búc xúc vì không được sống đúng với giới tính mong muốn của mình. Điều có thể khẳng định là nhu cầu muốn được sống với giới tính khác với giới tính sinh học đã có khi sinh ra là một nhu cầu tự thân, tự nhiên, do bẩm sinh của người chuyển giới mà họ không lựa chọn được, cũng không phải do những tác động ngoại cảnh chi phối. Chính vì do nhu cầu tự thân của người chuyển giới mà họ mới phải chịu đựng những sự hoài nghi, lo lắng, đau đớn, thống khổ khi phải gồng mình để thích nghi, để sống sao cho phù hợp với những quy ước, vai trò xã hội của những chuẩn mực giới tính sinh học mà họ mang từ lúc sinh ra. Vì thế, cuộc sống đó là không thật đối với họ. Điều đó gây ra “sự đau khổ về giới” ở người chuyển giới. “Sự đau khổ về giới” thể hiện qua nhiều tiêu chí, trong đó quan trọng nhất là có “mong muốn mãnh liệt được thoát khỏi giới tính được thừa nhận do có sự không tương thích với giới tính được biểu lộ” (Nguyễn Minh Tuấn, 2017).Do đó, người chuyển giới có khát khao được sống là chính mình, với giới tính sinh học mà mình mong muốn.

- Thứ hai, nhu cầu chuyển đổi giới tính không phải là một bệnh lý hoặc sự rối loạn tâm thần.

Tương tự như đối với quan hệ đồng tính, trước đây, chuyển giới bị coi là một loại bệnh, là sự rối loạn tâm thần. Người chuyển giới bị coi là người có sự rối loạn bản dạng giới (GID: Gender Identity Disorder: rối loạn nhận diện giới). Rối loạn nhận diện giới có thể ở những mức độ khác nhau, nhẹ hơn hoặc nặng hơn. Rối loạn bản dạng giới (GID) là một dạng rối loạn được ghi nhận trong cuốn Sổ tay chuẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM) do Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ xuất bản. Rối loạn nhận diện giới được sử dụng để mô tả, chẩn đoán cho những người có cảm nhận giới tính bên trong xung đột với giới tính đã định hình khi sinh ra. Năm 2013, DSM-5 được phát hành, trong đó có sự sửa đổi thuật ngữ “rối loạn nhận diện giới”, thay thế bởi thuật ngữ “Gender Dysphoria” để chỉ những trải nghiệm của người chuyển giới, đồng thời xóa bỏ từ “rối loạn” trong khái niệm “rối loạn nhận diện giới) trước đây vì đã không chính xác khi cho rằng “người nào có nhận diện giới không phù hợp với giới tính sinh học hiện có thì người đó bị “rối loạn” (PFLAG. ORG: Our trans loved ones, 2016, tr.14).

 Tuy nhiên người chuyển giới có thể và dễ bị rơi vào tình trạng trầm cảm, tự ti, hoài nghi hoặc có những biểu hiện tâm lý tiêu cực khác là do họ nhận thấy mình không giống với những chuẩn mực mà xã hội đặt ra đối với giới tính sinh học hiện có, do họ bị sự kỳ thị, phân biệt đối xử của những người xung quanh, nhưng đó không phải là sự rối loạn tâm thần… Điều đó đòi hỏi sự chia sẻ, thông cảm của cộng đồng đối với người chuyển giới, giúp họ vượt qua được những rào cản, trở ngại về tâm lý, để có một cuộc sống bình thường.

- Thứ ba, việc chuyển đổi giới tính từ góc độ đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán

Đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán là nền tảng văn hóa tinh thần của xã hội, quy định những chuẩn mực xã hội, chi phối đến hành vi ứng xử của các thành viên trong xã hội. Trong mọi giai đoạn lịch sử, các hành vi ứng xử của con người phù hợp với chuẩn mực chung thì được xã hội chấp nhận, và ngược lại, xã hội sẽ không chấp nhận, thậm chí còn kỳ thị, đố kỵ, lên án đối với những hành vi ứng xử không phù hợp theo chuẩn của xã hội. Các khuôn mẫu hành vi của con người thường được xã hội ấn định trước tùy thuộc vào việc họ là nam hay nữ, tức là nó luôn bị chi phối bởi giới tính của người đó. Việc thể hiện giới của mỗi người tương ứng và phù hợp với khuôn mẫu hành vi của giới tính mà người đó đang mang thường được xã hội thừa nhận. Những khuôn mẫu giới mà xã hội đặt ra trên cơ sở giới tính chi phối đến nhận diện về bản dạng giới của người chuyển giới, do đó “người chuyển giới thường cảm thấy lúng túng khi xác định bản dạng giới của mình” (Phạm Quỳnh Phươngvà những người khác, 2012, tr.32).

Trong bối cảnh đó, nhu cầu khẳng định giới tính mong muốn của mình khác với giới tính sinh học hiện có trên cơ thể của người chuyển giới không dễ dàng được cộng đồng hiểu, thông cảm và thừa nhận. Nhận thức của người dân và ngay cả ở những người có thẩm quyền về bản chất của người chuyển giới cũng chưa đúng. Vẫn còn tồn tại những quan điểm sai lầm về người chuyển giới, từ đó dẫn đến sự đánh giá không chính xác về hành vi, tư cách đạo đức của người chuyển giới. Để có sự đánh giá đúng về người chuyển giới trước hết cần hiểu được bản chất người chuyển giới, nhận thức được nhu cầu chuyển đổi giới tính, xu hướng tính dục là những nhu cầu tự nhiên của con người, giống như đối với những người khác, có tính chất bẩm sinh, không lựa chọn được, mà không phải là sự lệch lạc, biến thái của người chuyển giới. Ngay đối với bản thân người chuyển giới, “quá trình tự nhận thức về bản dạng giới là một quá trình khó khăn và lâu dài, từ khi còn nhỏ cho đến lúc trưởng thành. Đặc biệt, việc nhận thức ra bản dạng giới của họ luôn đi kèm với quyết định chuyển đổi liên quan đến thể hiện giới và đón nhận những thách thức trong cuộc sống” (Phạm Quỳnh Phươngvà những người khác, 2012, tr.30). Vì là nhu cầu tự nhiên, có tính chất bẩm sinh của người chuyển giới, nên mặc dù không phù hợp với xu hướng chung của xã hội, nhưng cũng không thể coi là vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội. Mặt khác, khát vọng được sống đúng với giới tính mong muốn của người chuyển giới đòi hỏi họ phải chấp nhận những thách thức, những rủi ro về tính mạng, sức khỏe, sự đau đớn về thể xác của chính bản thân khi thực hiện những liệu pháp can thiệp y học để chuyển đổi giới tính. Điều đó thể hiện quyền tự quyết, sự quyết tâm của họ đối với cơ thể mình mà không ảnh hưởng gì tới đạo đức xã hội, tới lợi ích chung của cộng đồng.

Ở góc độ khác có thể thấy, vấn đề này vẫn còn rất mới mẻ với văn hóa, nhận thức, phong tục, tập quán của người Việt Nam. Với tâm lý của người phương Đông, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của lễ giáo phong kiến từ ngàn năm, trong một xã hội với những chuẩn mực rõ ràng và khắt khe về nam tính và nữ tính, việc bộc lộ bản dạng giới cũng như xu hướng tính dục đồng tính của cá nhân là không “tự nhiên”, không “bình thường” trong con mắt nhiều người, đi ngược lại với chuẩn mực của cộng đồng nói chung, nên khó được chấp nhận. Điều này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn xảy ra ở nhiều nước trên thế giới, ngay cả ở những nước phát triển[1]. Để xã hội, cộng đồng hiểu đúng, nhận thức đúng về người chuyển giới, từ đó thừa nhận người chuyển giới cần một quá trình nhận thức, cần có thời gian tìm hiểu, trải nghiệm, qua lộ trình nhất định.

- Thứ tư, tác động của việc chuyển đổi giới tính tới đời sống xã hội

Từ góc độ xã hội, có thể thấy việc người chuyển giới công khai bản dạng giới của mình sẽ có ảnh hưởng nhất định tới cộng đồng, mà phần lớn những tác động đó có tính tự phát. Khi chưa có sự nhận thức đúng và hiểu về bản chất của người chuyển giới, có thể sẽ có không ít người cho rằng đây là những người “không bình thường”, có sự rối loạn về tâm lý hoặc là những người “biến thái”, lệch lạc về đạo đức… Sự nhận thức không đúng, xuất hiện một cách tự phát sẽ dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử, coi thường những người chuyển giới và khó chấp nhận thực tế. Thậm chí khi phải đối diện với việc bộc lộ bản dạng giới của con, em hay cháu mình, những người thân thích trong gia đình của người chuyển giới có thể bị sốc về tâm lý, không dễ dàng chấp nhận sự thật, và tất nhiên có thể có những phản ứng khó kiểm soát, làm xúc phạm, gây thương tổn, sự mặc cảm ở người chuyển giới.

Khi những cú sốc với người chuyển giới đã qua đi, khi gia đình, cộng đồng bắt đầu có sự tìm hiểu về người chuyển giới thì cách ứng xử đối với người chuyển giới cũng có những thay đổi hướng tới sự thông cảm, chia sẻ và hiểu biết hơn. Việc chuyển đổi giới tính sẽ được cộng đồng dễ chấp nhận hơn khi có sự hiểu biết, thấu hiểu và thông cảm với những khó khăn mà người chuyển giới phải gánh chịu trong cuộc sống. Nhận thức sẽ làm thay đổi hành vi. Khi nhận thức về người chuyển giới đúng hơn, khách quan hơn thì cộng động cũng dễ dàng chấp nhận người chuyển giới cũng như việc chuyển đổi giới tính của họ.

Mặt khác, nhận thức đúng về người chuyển giới sẽ dẫn đến thừa nhận việc chuyển đổi giới tính là nhu cầu tự thân của họ và chỉ xảy ra đối với chính người chuyển giới, mà không thể trở thành trào lưu xã hội, không thể a dua, đua đòi mà có được. Do đó, việc chuyển đổi giới tính bản thân nó không gây ra những tác động tiêu cực, bất lợi đối với cộng đồng, xã hội. Khi được cộng đồng, xã hội hiểu, thông cảm, người chuyển giới sẽ mạnh dạn, công khai sống đúng với giới tính mong muốn của mình, mà không bị coi là “lệch chuẩn”, sẽ tự tin tham gia và đóng góp sức lực, trí tuệ của mình vào đời sống xã hội.

Là một nhu cầu tự nhiên của người chuyển giới, việc chuyển đổi giới tính gắn liền với nhân thân của người chuyển giới. Chỉ bản thân người chuyển giới cảm nhận được và tự quyết định cách ứng xử với chính mình cũng như với cộng đồng trong việc bộc lộ bản dạng giới của mình. Tuy nhiên, người chuyển giới vẫn là một con người, một cá nhân sống trong xã hội cụ thể. Chính vì thế, họ cần được xã hội, pháp luật thừa nhận và tôn trọng. Do đó, bên cạnh các quy phạm xã hội như đạo đức, phong tục, tập quán, pháp luật cần có sự điều chỉnh nhất định đối với những người thuộc cộng đồng LGBT, trong đó có người chuyển giới. Những người chuyển giới cần được quan tâm một cách thiết thực, có hiệu quả, được giúp giải quyết những vướng mắc, khó khăn mà họ gặp phải trong cuộc sống.

Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phải dựa trên bản chất khách quan, những đặc điểm đặc thù của các quan hệ xã hội. Pháp luật không chỉ thể hiện ý chí của giai cấp thống trị mà còn phản ánh và mang tính xã hội, “biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị xã hội trong mỗi nước, ở một thời kỳ lịch sử nhất định” (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004, tr.66). Vì vậy, “muốn cho pháp luật phát huy được hiệu lực thì nó phải phù hợp với những điều kiện cụ thể của xã hội ở thời điểm tồn tại của nó, nghĩa là pháp luật phải phán ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã hội” (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004, tr.72). Trong bối cảnh kinh tế, xã hội hiện nay ở nước ta, nhất là Hiến pháp năm 2013 khẳng định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội” (Hiến pháp năm 2013, Điều 16), thì người chuyển giới có quyền được pháp luật thừa nhận và tôn trọng. Đó cũng là một yêu cầu cơ bản thể hiện trong Nghị quyết số 17/19 về “Quyền con người, Xu hướng tính dục và Bản dạng giới” được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua vào tháng 6/2011(Trương Hồng Quang, 2013, tr.19).

Dưới góc độ pháp lý, việc chuyển đổi giới tính thể hiện qua những khía cạnh sau:

- Nhu cầu chuyển đổi giới tính, được sống thật với bản dạng giới của mình là nhu cầu tự nhiên của con người, là một quyền con người của người chuyển giới. Quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người (Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, 2009, tr.42). Nhu cầu đó gắn với nhân thân của người chuyển giới, do bản thân họ tự cảm nhận và quyết định. Việc quyết định thay đổi cơ thể, (dù với mức độ nào, theo những cách thức hoặc liệu pháp nào) là quyền tự do đối với cơ thể, liên quan đến quyền tự quyết của người chuyển giới, chỉ chính bản thân họ mới có quyền quyết định. Việc thay đổi cơ thể để phù hợp với bản dạng giới là quyền tự do của cá nhân, không xâm phạm và làm ảnh hưởng tới lợi ích của người khác cũng như lợi ích chung của xã hội, vì thế họ có quyền được thực hiện. Tuy nhiên, ở góc độ khác, có thể thấy rằng, để đảm bảo quyền đó của người chuyển giới được thực hiện, được thừa nhận và tôn trọng trong xã hội thì quyền đó cần được pháp luật ghi nhận, tạo cơ sở pháp lý cho cách ứng xử công khai, minh bạch, đàng hoàng và thích hợp của người chuyển giới đối với chính mình, đối với xã hội, cũng như của mọi người đối với việc bộc lộ bản dạng giới của người chuyển giới.

- Với người chuyển giới, việc được công khai bản dạng giới của mình, được sống với giới tính mong muốn trước người thân, gia đình và xã hội mới đem lại cho người chuyển giới cảm xúc hạnh phúc, được là chính mình. Quyền mưu cầu hạnh phúc là một quyền đương nhiên của con người, được pháp luật cộng đồng quốc tế cũng như pháp luật quốc gia thừa nhận đối với tất cả mọi người, trong đó có người chuyển giới. Tuy nhiên, với người chuyển giới, quyền được “mưu cầu hạnh phúc” thường thực hiện không dễ dàng. Bởi vì, một phần do những rào cản, những định kiến xã hội đặt ra những quy chuẩn đối với mỗi giới tính, mặt khác, để được sống đúng với bản dạng giới theo mong muốn của mình, người chuyển giới phải vượt qua rất nhiều khó khăn, đau đớn, phải đối mặt với những rủi ro về tính mạng, sức khỏe khi thực hiện những liệu pháp điều trị nhằm thay đổi giới tính hiện có. Chính vì vậy, người chuyển giới rất cần sự hỗ trợ, chia sẻ, thông cảm từ người thân, gia đình, cộng đồng và sự hỗ trợ, công nhận, bảo vệ của pháp luật. Đối với người chuyển giới, quyền mưu cầu hạnh phúc thể hiện đồng thời ở hai mặt cơ bản: được sống đúng với giới tính mong muốn của mình và được hưởng sự điều trị y tế, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần khi thực hiện các liệu pháp can thiệp y học nhằm thay đổi giới tính hiện có. Với sự ghi nhận và điều chỉnh việc chuyển đổi giới tính bằng pháp luật sẽ tạo ra cơ sở pháp lý để người chuyển giới tự tin trong việc thực hiện các liệu pháp y khoa cần thiết theo nhu cầu, nguyện vọng, điều kiện sức khỏe thể chất, tinh thần cũng như tình trạng tài chính của mình. Bằng qui định của pháp luật, các biện pháp can thiệp mà người chuyển giới tự nguyện lựa chọn, quyết định nhằm chuyển đổi giới tính được thực hiện một cách công khai, đàng hoàng, có sự kiểm soát chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa mà không phải lén lút, dấu giếm như trước đây. Điều đó sẽ đảm bảo sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của người chuyển giới, đem lại cho người chuyển giới cảm giác được bảo vệ, được chăm sóc.

- Người chuyển giới cũng như những cá nhân khác có quyền được đối xử công bằng, bình đẳng, không bị phân biệt đối xử bởi xu hướng tính dục và bản dạng giới. Điều 1 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã chỉ rõ: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền”. Điều 2 của bản Tuyên ngôn cũng khẳng định mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về “chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo…”. Quyền tự do và bình đẳng là quyền tự nhiên, bẩm sinh và không thể chuyển nhượng của con người, gắn với con người trong suốt cuộc đời họ. Mặc dù với sự khác biệt về bản dạng giới, người chuyển giới có phẩm giá, năng lực, tư chất của họ và có đầy đủ các quyền con người một cách bình đẳng như những người khác, “mọi người ở mọi nơi đều có quyền được công nhận là một cá nhân trước pháp luật” (Bộ nguyên tắc Yogyakarta, 2007, nguyên tắc 3)và ‘được tôn trọng tư cách pháp lí đối với mọi khía cạnh của cuộc sống” (Trương Hồng Quang, 2013, tr.21). Mặc dù vậy, trong thực tế, người chuyển giới vẫn là nạn nhân của sự phân biệt đối xử, kỳ thị và bạo lực, bị xâm phạm về danh dự, nhân phẩm với những mức độ khác nhau “mang tính hệ thống” ở khắp nơi trên thế giới. Chính vì vậy Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã nỗ lực thực hiện một loạt các hoạt động nhằm chỉ ra những vi phạm nhân quyền đối với người LGBT và yêu cầu các quốc gia có những hành động cụ thể theo luật nhân quyền quốc tế nhằm chấm dứt các hành vi vi phạm nhân quyền (Trương Hồng Quang, 2013, tr.18-21). Như vậy, có thể thấy, với xu hướng tiến bộ chung, quyền con người của nhóm LBGT nói chung, của người chuyển giới nói riêng, ngày càng được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện trên thực tế, bất kể xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ. Song để làm được điều đó cần có sự tham gia, can thiệp, điều chỉnh của nhà nước bằng pháp luật với các cách thức, biện pháp thiết thực thì mới đảm bảo hiệu quả thực tế, tạo điều kiện để người chuyển giới có thể sống đúng với giới tính mong muốn của mình, đồng thời đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

  1. hiện nay

Ở Việt Nam, việc chuyển đổi giới tính được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2015. Để thực hiện quy định tại Điều 37 Bộ luật dân sự, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế chủ trì nghiên cứu, xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính (Quyết định số 243/QĐ-TTg/2016).

Xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính là một bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của nước ta, thể hiện tư tưởng của một nhà nước tôn trọng quyền tự do, dân chủ của cá nhân. Xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính trước tiên cần xác định những quan điểm chỉ đạo, cách tiếp cận, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, hệ quả pháp lý.

Luật Chuyển đổi giới tính sẽ cụ thể hóa quy định tại Điều 37 Bộ luật dân sự, điều chỉnh trực tiếp một khía cạnh quan trọng quyền nhân thân của cá nhân. Luật này có ảnh hưởng sâu sắc đến cộng đồng LGBT nói chung và người chuyển giới nói riêng. Việc xây dựng Luật tạo nền tảng pháp lý bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của người chuyển giới. Đây là một luật rất đặc thù, do đó, cần xác định rõ một số nội dung cơ bản là cơ sở để xây dựng Luật như sau:

  1. .

Người chuyển giới là một bộ phận dân cư trong xã hội nước ta hiện nay. Người chuyển giới có đầy đủ mọi quyền con người, quyền công dân như những cá nhân khác và có những đóng góp nhất định trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, hiện nay người chuyển giới đang phải đối diện với sự phân biệt đối xử, kỳ thị, xâm phạm nhân phẩm, danh dự trong đời sống xã hội, việc làm, sinh hoạt cộng đồng và ngay cả trong gia đình. Vì không được sự chấp nhận của cộng đồng, người chuyển giới phải sống trong sự giả dối, nghèo đói vì sự ruồng bỏ từ gia đình, trường học, nơi làm việc. Các nghiên cứu đã cho thấy, định kiến và sự phân biệt đối xử là nguyên nhân duy trì nghèo đói trong cộng đồng LGBT (UNDP, USAID, 2014, Báo cáo quốc gia LGBT Việt Nam – là LGBT ở châu Á, tr.20). Chính điều đó đòi hỏi phải có sự điều chỉnh pháp luật nhằm xác định cách nhìn nhận, ứng xử của cộng đồng, của xã hội và nhà nước đối với người chuyển giới một cách khách quan, đúng đắn, hợp tình, hợp lý, nhằm bảo đảm được các quyền của người chuyển giới.

Điều quan trọng nhất đối với người chuyển giới là được sống thật với giới tính mong muốn của mình. Đó nhu cầu tự nhiên và chính đáng của người chuyển giới mà pháp luật cần tôn trọng, tạo điều kiện thực hiện. Để được sống với giới tính mong muốn của mình, người chuyển giới phải chấp nhận và đối diện với những nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn khi thực hiện những biện pháp can thiệp y khoa nhằm làm thay đổi giới tính sinh học hiện có của mình sao cho giống nhất với giới tính mong muốn. Điều đó một mặt là nhu cầu khát khao cháy bỏng của họ, mặt khác là trách nhiệm của nhà nước đối với nhu cầu sống không thể thiếu của người chuyển giới. Trước yêu cầu chính đáng của người chuyển giới, nhà nước cần ghi nhận và có trách nhiệm tạo điều kiện tốt nhất, phù hợp và an toàn nhất để họ thực hiện được các quyền con người tự nhiên của mình.

Việc thực hiện các can thiệp y học để chuyển đổi giới tính chỉ có ý nghĩa thiết thực, hiệu quả đối với người chuyển giới khi nó mang lại cho người chuyển giới những hậu quả pháp lý tương ứng với giới tính mới. Điều đó chỉ có được khi được pháp luật công nhận và quy định. Điều chỉnh hệ quả pháp lý đối với việc chuyển đổi giới tính cần phải có sự chặt chẽ, rõ ràng, minh bạch và thống nhất của pháp luật nhằm đảm bảo quyền của người chuyển giới, đồng thời lường trước những vấn đề phức tạp có thể nảy sinh trong cuộc sống. Như vậy, hợp pháp hóa quyền chuyển đổi giới tính của người chuyển giới cũng có nghĩa là xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cơ sở y tế phải đảm bảo thực hiện quyền đó của người chuyển giới một cách an toàn, hiệu quả nhất bằng pháp luật. Điều đó cần được điều chỉnh bằng một văn bản luật.

Việc xây dựng Luật chuyển đổi giới tính là cấp thiết hiện nay khi Điều 37 Bộ luật dân sự đã quy định: “việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật” nhưng cho đến thời điểm hiện nay, sau khi Bộ luật dân sự có hiệu lực đã hơn một năm vẫn chưa có quy định cụ thể để thực hiện Điều 37 Bộ luật dân sự. Quyền chuyển đổi giới tính liên quan đến quyền con người của người chuyển giới nên nó cần được điều chỉnh bằng một luật đặc thù. Xây dựng Luật chuyển đổi giới tính sẽ là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền chuyển đổi giới tính của người chuyển giới, đáp ứng nhu cầu khẩn thiết và những vấn đề mà người chuyển giới phải đối mặt hiện nay.

  1. Chuyển đổi giới tính

Mục đích của Luật Chuyển đổi giới tính cần được xác định một cách rõ ràng làm cơ sở cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật tương ứng, thích hợp điều chỉnh vấn đề chuyển đổi giới tính. Các mục đích cần được xác định rõ ràng là:

- Thứ nhất, xác lập cơ sở pháp lý để thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với người chuyển giới, tạo điều kiện cho người chuyển giới được sống với giới tính mong muốn của mình, thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người của người chuyển giới.

- Thứ hai, việc chuyển đổi giới tính chỉ có ý nghĩa đối với người chuyển giới khi nó kéo theo sự thay đổi pháp lý về tư cách chủ thể của người chuyển giới với giới tính mới. Do đó, mục đích quan trọng thứ hai của Luật này là cần xác định rõ những hệ quả pháp lý phát sinh gắn với sự thay đổi cơ thể của người chuyển giới với giới tính mới. Theo quan điểm của cá nhân tôi, hệ quả pháp lý mới phát sinh phải có sự tương ứng, thống nhất với sự thay đổi cơ thể của người chuyển giới trong giới tính mới. Do đó, Luật Chuyển đổi giới tính cần quy định các quy phạm pháp luật thể hiện mối liên kết nội tại thống nhất giữa các biện pháp can thiệp y học mà người chuyển giới thực hiện nhằm chuyển đổi giới tính với các hệ quả pháp lý tương ứng, mà không phải chỉ hướng tới việc đáp ứng dư luận xã hội hoặc mong đợi của nhóm người chuyển giới, nhằm hạn chế và tránh được những vấn đề phức tạp có thể xảy ra.

- Thứ ba, xây dựng Luật chuyển đổi giới tính nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử của từng người dân và cộng đồng đối với người chuyển giới, khắc phục, giảm bớt sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người chuyển giới, giúp họ hòa nhập với xã hội một cách tốt hơn, toàn diện hơn.

  1. Những yêu cầu đặt ra khi xây dựng Luật chuyển đổi giới tính

Luật Chuyển đổi giới tính hướng tới điều chỉnh các quan hệ xung quanh đối tượng đặc thù là người chuyển giới, nên cần xuất phát từ thực trạng khách quan của người chuyển giới, tôn trọng những đặc thù khác biệt của họ, ghi nhận các quyền của họ phù hợp, tương đồng với các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, nhận thức trong từng giai đoạn lịch sử của quốc gia. Vì vậy, Luật Chuyển đổi giới tính cần xác định rõ một số nội dung cơ bản, có ý nghĩa then chốt, có mối liên hệ nội tại, gắn kết với nhau, chi phối đến việc xây dựng Luật. Đó là một số vấn đề cơ bản sau:

- Thứ nhất, người được chuyển đổi giới tính. Theo tôi, không phải bất cứ cá nhân nào cũng được chuyển đổi giới tính. Nhu cầu chuyển đổi giới tính chỉ đặt ra đối với người chuyển giới. Đối với người có nhận diện giới trùng khớp với giới tính sinh học hiện có của mình và hài lòng với giới tính sinh học hiện có đó sẽ không có nhu cầu chuyển đổi giới tính, và vì thế họ không phải là người chuyển giới.

Việc chuyển đổi giới tính liên quan mật thiết đến sức khỏe của người chuyển giới, dẫn đến những thay đổi cơ bản về quyền, nghĩa vụ pháp lý của họ đối với nhà nước, xã hội, gia đình và những người khác. Do đó, khi muốn chuyển đổi giới tính, người chuyển giới phải đáp ứng được ít nhất các điều kiện sau:

i) Xác định một cách chắc chắn rằng mong muốn, nguyện vọng được chuyển đổi giới tính ở người chuyển giới là có thật và thật sự cháy bỏng, đến mức nếu không được sống với giới tính mong muốn thì đó là điều bất hạnh và không thể chịu đựng nổi đối với họ và họ chắc chắn sống với giới tính mới mong muốn một cách ổn định trong tương lai. Điều này thường được thực hiện qua bản đánh giá, chứng nhận của các chuyên gia tâm lý – tâm thần về việc cá nhân đó có cảm nhận về giới tính của mình khác với giới tính sinh học khi sinh ra và khẳng định khả năng sống ổn định, bền vững với giới tính đó trong tương lai.

ii) Người chuyển giới có đủ điều kiện sức khỏe và tâm lý để thực hiện các can thiệp y học nhằm chuyển đổi giới tính. Việc thực hiện các can thiệp y học, dù với mức độ khác nhau, đặc biệt là phẫu thuật thay đổi cơ quan sinh dục, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tuổi thọ, tính mạng của người chuyển giới, đòi hỏi người chuyển giới phải xác định trước mọi rủi ro, nguy cơ có thể xảy ra và có khả năng thực hiện được các can thiệp y học đó. Vì vậy không phải ai mong muốn cũng thực hiện được.

iii) Các điều kiện pháp lý như độ tuổi, tình trạng hôn nhân, tình trạng con cái... khi muốn chuyển đổi giới tính. Điều đó nhằm đảm bảo việc chuyển đổi giới tính của người chuyển giới không làm ảnh hưởng đến người khác, đồng thời xác định được các mối quan hệ có liên quan khi chuyển đổi giới tính.

- Thứ hai, cần xác định rõ thế nào là chuyển đổi giới tính? Chuyển giới và chuyển đổi giới tính là hai khái niệm, hai vấn đề khác nhau. Với tên của Luật là Luật chuyển đổi giới tính, nhóm những người chuyển giới không thực hiện bất kỳ một hành vi, sự can thiệp nào về y học nhằm tác động đến việc chuyển đổi giới tính sẽ không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật này.

Tuy nhiên vấn đề này hiện nay còn có những quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, chỉ cần thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định như điều trị nội tiết tố sinh dục, hoặc phẫu thuật ngực mà không có bất cứ sự can thiệp nào đến cơ quan sinh dục cũng được coi là chuyển đổi giới tính (Bộ Y tế, dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính, 2018, Điều 5, Điều 6). Quan điểm khác cho rằng chuyển đổi giới tính chỉ được thừa nhận khi đã thực hiện phẫu thuật bộ phận sinh dục (Nguyễn Minh Tuấn, 2017; Đỗ Văn Đại, Ngô Thị Anh Vân, 2016, tr.20). Việc phẫu thuật bộ phận sinh dục nhằm đem lại cho người chuyển giới sự trùng khớp giữa cơ thể với giới tính mong muốn. Pháp luật các nước cũng quy định khác nhau giữa yêu cầu phẫu thuật bộ phận sinh dục với việc triệt sản. Có nước yêu cầu phẫu thuật bộ phận sinh dục đồng thời phải triệt sản như pháp luật của Bỉ, Cộng hòa Séc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ (Bộ Y tế, 2017, tr.31, 34, 51, 54, 47). Có nước chỉ yêu cầu phẫu thuật bộ phận sinh dục mà không đồng thời phải triệt sản hoặc ngược lại. Pháp luật các nước đã qui định việc thực hiện phẫu thuật cơ quan sinh dục như là điều kiện được công nhận chuyển đổi giới tính trong thời gian dài và sau đó mới dần dần có những thay đổi theo hướng cởi mở hơn, thoáng hơn. Điều này cho thấy, ngay ở các nước phát triển, công nhận chuyển đổi giới tính về mặt pháp luật cũng trải qua một quá trình, không thể vội vàng, để có được sự tương đồng và phù hợp với trình độ nhận thức, phát triển văn hóa, khoa học của xã hội.

Theo quan điểm của tôi, để có cơ sở xác định thế nào được coi là chuyển đổi  giới tính, cần xác định một cách toàn diện, tổng thể các khía cạnh liên quan trong mối liên hệ thống nhất, biện chứng, với sự chi phối lẫn nhau, nhằm đảm bảo sự điều chỉnh pháp luật một cách thống nhất, thể hiện qua các khía cạnh sau:

i) Về việc được coi là chuyển đổi giới tính: Giới tính của một người được quy định bởi ba yếu tố: cấu trúc bộ phận sinh dục trong và ngoài của người đó khi sinh ra, hoóc môn giới tính, bộ nhiễm sắc thể giới tính. Nếu chỉ tác động bằng việc điều trị hoóc môn, hoặc can thiệp phẫu thuật ngực thì chưa làm thay đổi bộ phận sinh dục – bộ phận định hình giới tính của một người từ khi sinh ra, vì vậy thực tế là không làm thay đổi giới tính của người đó, nên không thể gọi là chuyển đổi giới tính. Vì vậy, tôi thấy quan điểm cho rằng, chuyển đổi giới tính bắt buộc phải có sự can thiệp y học để làm thay đổi cấu trúc bộ phận sinh dục khi sinh ra là có cơ sở  khoa học và phù hợp với thực tế. Điều chỉnh việc chuyển đổi giới tính cần được thực hiện trên cơ sở lập luận, các nghiên cứu về y học để có cơ sở xác định một cách khách quan bản chất của nhận diện giới, từ đó xác định nhu cầu chuyển đổi giới tính là có thật và nhu cầu đó là thực sự, sâu sắc, có tính toàn diện.

Khi xác định thực hiện các can thiệp y học, đặc biệt là phẫu thuật bộ phận sinh dục, nhằm chuyển đổi giới tính có ảnh hưởng quan trọng, sâu sắc đối với sức khỏe của người chuyển giới, đòi hỏi họ phải có nhận thức, suy nghĩ cẩn thận, chín chắn, nghiêm túc, phải lường trước những hậu quả, những rủi ro có thể xảy ra. Khi luật xác định rõ ràng với can thiệp y học ở mức độ nào thì mới có đủ điều kiện được coi là chuyển đổi giới tính, những người chuyển giới sẽ có cơ sở để suy nghĩ, xem xét và quyết định việc có thực hiện phẫu thuật để chuyển đổi giới tính hay không. Nếu pháp luật xác định ranh giới của vấn đề này không rõ ràng thì không có tác động định hướng cho hành vi của con người và sẽ không đảm bảo được hiệu quả điều chỉnh pháp luật.

ii) Mục đích của việc chuyển đổi giới tính là nhằm làm thay đổi cấu trúc cơ thể của người chuyển giới sao cho giống nhất với giới tính mà họ mong muốn. Tuy nhiên giới tính mà họ mong muốn đó chỉ tồn tại đối với chính họ, mà người khác không thể nhận biết được. Người khác chỉ nhận biết được khi người chuyển giới thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng ra bên ngoài qua các đặc điểm cơ thể với giới tính mới. Cơ thể con người là một khối thống nhất, toàn vẹn với sự tiến hóa tuyệt vời theo các quy luật sinh lý tự nhiên. Giới tính của một người được xác định một cách tự nhiên theo cấu trúc sinh lý hoàn hảo của nó. Người chuyển giới vốn dĩ cũng mang trong mình một cơ thể hoàn chỉnh tuyệt vời của các quy luật tự nhiên, nhưng có bản dạng giới khác với giới tính sinh học tự nhiên đã có khi sinh ra, họ muốn được thay đổi cơ thể mình phù hợp với giới tính mong muốn, thì họ cũng phải tôn trọng các quy luật tự nhiên của tạo hóa đối với cơ thể con người. Do đó, khó có thể chấp nhận được việc một người chuyển giới từ nam sang nữ có thể thực hiện thay đổi, can thiệp đến ngực sao cho giống nữ nhưng bộ phận sinh dục vẫn chưa được phẫu thuật, vẫn mang hình dạng cấu trúc của bộ phận sinh dục nam, hoặc ngược lại. Điều đó khó có thể chấp nhận được không chỉ đối với những người xung quanh mà còn đối với chính bản thân người chuyển giới. Do đó, việc chuyển đổi giới tính chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra sự thống nhất nội tại trên cơ thể người chuyển giới, ít nhất về mặt hình thức bên ngoài.

Khi thực hiện việc chuyển đổi giới tính, người chuyển giới không chỉ mong muốn có được cơ thể hoàn hảo theo giới tính mong muốn, mà họ còn có nhu cầu được người khác, xã hội và pháp luật công nhận mình với giới tính mới đã được chuyển đổi. Một điều khách quan là để được công nhận theo giới tính mới thì ít nhất về mặt cơ thể của người chuyển giới phải thể hiện sự thống nhất giữa các bộ phận cơ thể theo một giới tính nhất định. Đó là một thực tế khách quan cần được xác định rõ trong sự điều chỉnh pháp luật, để đảm<

Copyright © 2014 Hội Luật gia Việt Nam

Viện Nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN

Tầng 3, Tòa tháp Ngôi sao (Star Tower), đường Dương Đình Nghệ, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Email: vienaseanvn@gmail.com * Điện thoại: 04 62634949

Powered by NetLink Tech