Kết nối trí tuệ vì sự phát triển bền vững * Connecting Think - Tank for sustainable development

CÔNG TY LUẬT HỢP DANH TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN– MỘT HÌNH THỨC TỔ CHỨC KINH DOANH MỚI CỦA LUẬT SƯ *

 

 

Tóm tắt: Hiện nay, dịch vụ pháp lý đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, nhưng cùng với nó là một môi trường cạnh tranh ngày càng tăng, làm cho tính rủi ro đối với các thành viên trong công ty luật hợp danh[1] thông thường càng lớn bởi chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của nhà đầu tư ở loại công ty này. Đây chính là lý do chủ yếu khiến các công ty luật hợp danh thông thường không thể phát triển được về mặt quy mô để giải quyết những khó khăn, thách thức mà sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường tạo ra; do đó, chúng không còn sự hấp dẫn đối với các luật sư như thuở ban đầu nữa. Vì vậy, sự xuất hiện một thực thể mới có thể thay thế công ty luật hợp danh thông thường nhưng làm giảm được nguy cơ rủi ro của chế độ trách nhiệm vô hạn mà vẫn giữ được những ưu điểm về tính linh động trong cấu trúc quản lý và chế độ thuế của công ty luật hợp danh tthông thường là điều hết sức cần thiết đối với các chuyên gia pháp lý. Các luật sư ở nhiều nước không được phép thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần mà chỉ có thể hoạt động dưới hình thức các hợp danh. Ví dụ, luật sư ở các bang California và New Mexico của Hoa Kỳ bị cấm thành lập các công ty luật trách nhiệm hữu hạn (Kitty Lam, 2005, p. 5). Trong bối cảnh đó, mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn trở nên quan trọng và là một trong những sự lựa chọn tốt nhất cho việc cung cấp dịch vụ pháp lý. Bài viết này sẽ làm rõ những vấn đề sau: (i) Khái niệm, đặc điểm của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn; (ii) Những điểm khác biệt giữa công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn với các hình thức tổ chức kinh doanh khác; (iii) Sự cần thiết phải ghi nhận mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam.

Từ khóa: Công ty luật hợp danh, trách nhiệm hữu hạn

 

Không phải bất cứ hoạt động nào trong tất cả các ngành, nghề kinh doanh đều có thểthực hiện dưới hình thức công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn. Đa số các hệ thống pháp luật chỉ cho phép thành lập mô hình kinh doanh này khi gắn với những nghề nghiệp nhất định, chẳng hạn lĩnh vực như kế toán, kiến trúc sư, bác sĩ, luật sư...Khi hai hoặc nhiều luật sư thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định cùng tham gia thành lập một công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn thì chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các nghĩa vụ của công ty sẽ được pháp luật trao cho mỗi thành viên. Họ không phải liên đới chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân về hành vi gây thiệt hại của các đồng nghiệp. Điều đó có nghĩa, công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn là một pháp nhân, nó có thể sở hữu và chuyển nhượng tài sản, các khoản nợ của công ty sẽ chỉ được thanh toán bởi tài sản của công ty mà không phải bởi tài sản của các thành viên; tuy nhiên, từng thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm cá nhân, vô hạn đối với hành vi gây thiệt hại của chính mình. Với mô hình này, các nhà đầu tư vẫn có quyền trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty mà không phải chịu trách nhiệm vô hạn giống các thành viên của công ty luật hợp danh thông thường, họ đều có vai trò như nhau khi quyết định những vấn đề quan trọng của công ty và bình đẳng với nhau trong việc phân chia lợi nhuận cũng như gánh chịu các khoản lỗ. Như vậy, theo cá nhân người viết, có thể định nghĩa: Công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn là hình thức tổ chức kinh doanh “lưỡng tính”, có tư cách pháp nhân, trong đó các thành viên không những được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn mà còn có thể linh động khi thiết kế cấu trúc quản lý bên trong giống công ty luật hợp danh thông thường.

* Đặc điểm về thành viên

Thành viên của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Trong thực tiễn của đa số các quốc gia thì thành viên của loại hình của công ty này nếu là cá nhân thì thường là luật sư; nếu là tổ chức, thường sẽ là các công ty luật. Chẳng hạn, pháp luật của Malaysia cho phép những người hoạt động nghề nghiệp bao gồm cả các chuyên gia pháp lý có thể thành lập công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn để tiến hành hoạt động nghề nghiệp. Thành viên của công ty này chỉ có thể là cá nhân các luật sư và phải có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (Malaysia, Limited Liability Partnership Act, 2012, s. 8).Theo Luật Hợp danh Thống nhất của Hoa Kỳ, hợp danh bao gồm hai hoặc nhiều người cùng tiến hành hoạt động kinh doanh với tư cách là những đồng chủ sở hữu nhằm mục đích lợi nhuận(USA, Uniform Partnership Act, 1997, s. 101(6)). Hoạt động kinh doanh bao gồm cả việc cung cấp dịch vụ pháp lý của các luật sư (Andreas Cahn and David C. Donald, 2010, p. 41), còn hợp danh bao gồm hợp danh thông thường, hợp danh hữu hạn và cả hợp danh trách nhiệm hữu hạn. Thuật ngữ “người” trong định nghĩa theo khoản 10 Điều 101có thể là cá nhân, pháp nhân, hợp danh… hoặc bất kỳ thực thể thương mại hay pháp lý nào khác (USA, Uniform Partnership Act, 1997, s. 101(10)). Như vậy, thành viên của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn theo pháp luật Hoa Kỳ có thể là bất kỳ tổ chức nào thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định. Luật Hợp danh năm 1890 của Anh quốc cũng cho phép các luật sư được hành nghề dưới hình thức hợp danh và thuật ngữ “người” trong định nghĩa về hợp danh tại Điều 1(1) của Luật này bao gồm cả các công ty trách nhiệm hữu hạn (tổ chức). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý, tư cách thành viên của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn không chỉ dừng lại ở cá nhân các luật sư hoặc các công ty luật. Một số nước còn cho phép cả những người không phải là luật sư và các tổ chức không phải là các công ty luật trở thành thành viên của mô hình kinh doanh này. Chẳng hạn, Canada, Điều 61(1) Luật về các tổ chức luật năm 1990 sửa đổi năm 2017 qui định rằng những người được cấp phép hành nghề luật sư tập sự cũng có quyền thành lập công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn để thực hành luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý (Canada, Law Society Act, 1990, s. 61(1)). Tại Úc, muốn thành lập một công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn phải có ít nhất một thành viên là luật sư có chứng chỉ hành nghề và ít nhất một người không phải là luật sư (Rupa Chanda & Pralok Gupra, 2015). Theo Shih Lee (2015), hiện nay, vương quốc Anh cũng đã ghi nhận các cấu trúc kinh doanh khác (Alternative Business Structures – ABS), trong đó, những người không phải là luật sư (non-lawyers) hay không phải là các công ty luật (law firms) cũng có thể trở thành người quản lý hoặc có quyền sở hữu một phần lợi ích trong công ty luật. Gần đây, nhằm mục đích khuyến khích những người không phải là luật sư nhưng giỏi về quản lý và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính tham gia vào các văn phòng luật, và chuẩn bị khả năng cho phép một thực thể có thể kinh doanh nghiều ngành nghề khác nhau, Singapore cũng có quy định tương tự về ABS[2]. Để bắt đầu, các Văn phòng luật (Legal Disciplinary Practices - LDPs), nơi mà những người quản lý/người làm công không phải là luật sư (non-lawyers managers) cũng có quyền sở hữu một phần lợi nhuận trong đó, sẽ được phép. LDPs chỉ được cung cấp các dịch vụ pháp lý (Minitry of Law, 2014).

Trong công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn thường có số thành viên tối thiểu là hai và không giới hạn số lượng tối đa. Điều này tạo sự dễ ràng để công ty mở rộng quy mô kinh doanh so với các công ty hợp danh thông thường không hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý hoặc các lĩnh vực chuyên nghiệp khác (công ty hợp danh thông thường không hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý hay các lĩnh vực chuyên nghiệp khác như ở Ấn Độ, Singapore... chỉ cho phép tối đa là hai mươi thành viên). Không giống các cổ đông của công ty cổ phần, các thành viên của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn có quyền quản lý hoạt động kinh doanh một cách trực tiếp; trong công ty không cần Ban giám đốc, không phải tổ chức các cuộc họp thường niên hàng năm... và cũng không có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát.

* Đặc điểm về chế độ trách nhiệm

Các thành viên trong công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn. Điều này đó có nghĩa một thành viên sẽ không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính của công ty vượt quá số vốn đã đầu tư vào đó. Chẳng hạn, Điều 306(c) Luật Hợp danh Thống nhất của Hoa Kỳ quy định một khoản nợ, một nghĩa vụ hay trách nhiệm khác được tạo ra trong hợp danh trách nhiệm hữu hạn sẽ chỉ là khoản nợ, nghĩa vụ hoặc trách nhiệm khác của hợp danh trách nhiệm hữu hạn đó. Một thành viên sẽ không phải chịu trách nhiệm cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp bằng việc góp tài sản hoặc cách khác cho khoản nợ, nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của hợp danh chỉ bởi lý do là thành viên hoặc hành động như một thành viên (USA, Uniform Partnership Act, 1997, s. 306(c)). Hơn nữa, mỗi thành viên trong công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn cũng được bảo vệ trước hành vi gây thiệt hại của các thành viên khác nếu họ không liên quan đến hành vi đó, tức là, không có lỗi sẽ không phải liên đới chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân của mình. Chẳng hạn, nếu một thành viên của công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn có hành vi gây thiệt hại trong quá trình kinh doanh bình thường của công ty mà tài sản của công ty không đủ để bồi thường thì thành viên đó sẽ phải thanh toán phần còn thiếu bằng tài sản cá nhân của mình, các thành viên khác không phải lấy tài sản cá nhân để thực hiện nghĩa vụ đó (Andreas Cahn & David C. Donald, 2010, p. 45). Ngoài ra, theo pháp luật của một số quốc gia, nếu công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu mà tồn tại vượt quá một khoảng thời gian nhất định thì thành viên còn lại sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn và công ty có thể sẽ bị giải thể bởi quyết định của tòa án. Chẳng hạn, theo pháp luật Malaysia, nếu ở bất kỳ thời điểm nào mà số lượng thành viên của công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn giảm xuống dưới hai và công ty tiếp tục kinh doanh trong một khoảng thời gian dài hơn sáu tháng thì luật sư là thành viên duy nhất của công ty sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân, vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty phát sinh trong khoảng thời gian kéo dài hơn sáu tháng đó (Malaysia, Limited Liability Partnership Act, 2012, s. 6(2)). Trong khi đó, theo pháp luật của Singapore, thành viên của công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn ở mọi thời điểm cũng phải có ít nhất là hai luật sư ngoại trừ trường hợp vì lý do nào đó mà công ty chỉ còn một thành viên duy nhất thì pháp luật cho phép thành viên đó một khoảng thời gian là hai năm để tìm thêm thành viên mới. Nếu vượt quá thời gian luật định mà vẫn không tìm được thành viên mới thì thành viên còn lại duy nhất trên sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn và công ty có thể bị tòa án giải thể (Singapore, Limited Liability Partnership Act, 2005, s. 22(2)).

* Đặc điểm về thuế và tư cách pháp lý

Thuế là một trong những ưu điểm chính của các hợp danh nói chung mà công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn còn duy trì được. Trong khi các công ty cổ phần được xem là những thực thể độc lập và phải chịu thuế ở cả cấp độ thực thể và cấp độ cá nhân các cổ đông thì ngược lại, các công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn chỉ phải chịu thuế một lần giống các công ty luật hợp danh thông thường. Khoản lợi nhuận của công ty cổ phần sẽ phải chịu thuế công ty, sau khi thuế được thanh toán, phần lợi nhuận còn lại sẽ được chia cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức và các cổ đông có thể sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân một lần nữa đối với phần lợi nhuận này. Còn đối với các công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, phần lợi nhuận thu được sẽ được chuyển về cho các thành viên và họ sẽ chỉ phải chịu thuế thu nhập cá nhân một lần đối với phần lợi nhuận đó, vì vậy sẽ tránh được việc một khoản thu nhập lại phải chịu thuế hai lần (double tax).

Về tư cách pháp lý, theo pháp luật của đa số các nước (ngoại trừ Đức),[3] công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn là một pháp nhân, tách biệt với các thành viên của nó (India, Limited Liability Partnership Act, 2008, s. 3 & UK, Limited Liability Partnership Act, 2000, s. 1). Vì có tư cách pháp nhân nên công ty có thể khởi kiện, bị kiện, có quyền sở hữu, quản lý và định doạt tài sản cũng như thực hiện các hành vi khác một cách hợp pháp giống các loại hình công ty khác (Malaysia, Limited Liability Partnership Act, 2012, s. 3).

Thứ nhất,về tư cách pháp lý, công ty luật hợp danh thông thường theo pháp luật của các quốc gia thường không phải là pháp nhân (Anh, xứ Wales, Hồng Kông...), tài sản của hợp danh thuộc sở hữu chung của tất cả các thành viên, bản thân hợp danh không tồn tại độc lập với các thành viên sáng lập ra nó trừ một số ít hệ thống pháp luật như Việt Nam, một số bang của Hoa Kỳ.... Ngược lại, một công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn theo pháp luật của đa số các nước thường là một pháp nhân (Singapore, Malaysia, Ấn Độ...), nó có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trước các cơ quan tài phán.

Thứ hai, về mặt trách nhiệm, trong công ty luật hợp danh thông thường, các thành viên đều chịu trách nhiệm cá nhân, vô hạn đối với tất cả các khoản nợ của công ty, đối với bên thứ ba vì tính liên đới, tức là mỗi thành viên đều có thể bị kiện để yêu cầu thanh toán toàn bộ khoản nợ. Trong một công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, không có thành viên nào phải chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân về những hành vi gây thiệt hại của các thành viên khác vượt ra ngoài phạm vi số vốn đã góp vào công ty nếu hành vi gây thiệt hại của thành viên kia không có liên quan đến họ hoặc người thực hiện hành vi gây thiệt hại đó không phải là người chịu sự giám sát của họ.

Thứ ba, về nguyên tắc đại diện, nếu mỗi thành viên trong công ty luật hợp danh thông thường thông thường vừa là người đại diện cho công ty vừa là người đại diện cho các thành viên khác thì mỗi thành viên của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn chỉ là người đại diện cho công ty chứ không phải là người đại diện cho các thành viên còn lại. Điều này dẫn đến việc mỗi thành viên trong một công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn mặc dù cũng có nghĩa vụ trung thành và cẩn trọng tương tự như các thành viên của một công ty luật hợp danh thông thường, nhưng nghĩa vụ này chỉ là đối với công ty chứ không phải đối với các thành viên khác.

Thứ nhất, về thành viên, trong công ty luật hợp danh hữu hạn phải có hai loại thành viên, trong đó ít nhất một thành viên là thành viên hợp danh, có quyền điều hành, kiểm soát hoạt động kinh doanh hàng ngày và chịu trách nhiệm cá nhân, vô hạn về các nghĩa vụ tài sản của công ty. Ngoài thành viên hợp danh còn có một hoặc nhiều thành viên khác (thành viên hợp danh hữu hạn - thành viên góp vốn) chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp hoặc cam kết góp vào công ty. Thành viên góp vốn đóng vai trò là nhà đầu tư thụ động, không được tham gia quản lý hoạt động kinh doanh của công ty. Nếu làm ngược lại, thành viên đó sẽ bị coi như thành viên hợp danh và phải chịu trách nhiệm cá nhân và vô hạn, còn trong một công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn chỉ có một loại thành viên duy nhất, tất cả các thành viên đều được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn nhưng họ vẫn được quyền trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh của công ty giống các thành viên hợp danh của công ty luật hợp danh hữu hạn.

Thứ hai, về thủ tục thành lập. Thủ tục thành lập công ty luật hợp danh hữu hạn theo pháp luật của nhiều nước phức tạp hơn rất nhiều so với thủ tục thành lập công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn. Đó là một quá trình phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, để thành lập một công ty luật hợp danh hữu hạn, các luật sư phải ký vào Bản chứng nhận thành lập hợp danh (Certificate of limited partnership). Giống như điều lệ thành lập (Articles of incorporation) các công ty khác (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần), Bản chứng nhận thành lập hợp danh hữu hạn phải chứa đựng các thông tin cơ bản như tên, địa chỉ, phần vốn góp của mỗi thành viên hợp danh và thành viên góp vốn... Văn bản này phải được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền của bang, cụ thể là Thư ký bang (Secretary of State). Ngược lại, để có địa vị của một công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, các thành viên của công ty luật hợp danh thông thường chỉ cần đăng ký với Thư ký bang có thẩm quyền và nộp một khoản phí để duy trì địa vị mà không phải thực hiện thủ tục thành lập một thực thể mới như việc thành lập công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn ở Anh và một số nước khác.

Giống như người anh em song sinh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn cũng trao cho các nhà đầu tư gần như mọi lợi thế mà công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn đã có, trong đó phải kể đến như: (i) Chỉ chịu thuế một lần (điều mà các công ty cổ phần không có); (ii) Có trách nhiệm hữu hạn (vấn đề mà các công ty luật hợp danh thông thường còn thiếu). Tuy nhiên, điểm khác biệt rõ nét nhất giữa công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn và công ty luật trách nhiệm hữu hạn nằm ở phạm vi giới hạn trách nhiệm và sự thực hiện chức năng quản lý. Các thành viên của công ty luật trách nhiệm hữu hạn được miễn khỏi tất cả các loại trách nhiệm trừ những trách nhiệm phát sinh từ lỗi lầm của chính họ, còn các thành viên của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn không phải ở nền tài phán nào cũng có được sự bảo vệ như vậy. Ở một số bang của Mỹ, công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn được hưởng sự bảo vệ tương tự công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Trong khi đó, ở các bang khác, thành viên của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn chỉ được miễn trừ một số loại trách nhiệm nhất định, ví dụ pháp luật của bang Delaware bảo vệ các thành viên không có lỗi khỏi các khoản nợ và nghĩa vụ của hợp danh phát sinh bởi hành vi gây thiệt hại do cẩu thả (negligence), do các hành vi bất hợp pháp (wrongful) hoặc do hành vi sai phạm khác (misconduct) (Roger LeRoy Miller, 2015, p. 738); còn Luật Hợp danh Thống nhất lại miễn trừ trách nhiệm cá nhân cho các thành viên đối với các nghĩa vụ của hợp danh ở phạm vi rộng hơn, ‘dù phát sinh do hợp đồng (in contract), sai phạm cá nhân (tort) hay cách khác’ (USA, Unifrom Partnership Act, 1997, s. 36(c)). Ở Hoa Kỳ, giới hạn trách nhiệm phát sinh từ địa vị của công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn bắt nguồn từ hai nguyên tắc cơ bản. Thứ nhất, bất kỳ nghĩa vụ nào của hợp danh phát sinh, cho dù từ hợp đồng hay sai phạm cá nhân, chỉ là nghĩa vụ của hợp danh (USA, Uniform Partnership Act, 1997, s. 305(a), ss. 306(c). Thứ hai, một thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm về các sai lầm cá nhân, nhưng vẫn có quyền được bồi thường từ hợp danh (USA, Uniform Partnership Act, 1997, s. 306(a), ss. 401(c)). Cho nên, nếu tài sản của hợp danh không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì thành viên này sẽ phải thanh toán nốt phần còn lại bằng tài sản cá nhân của mình.

Ở hầu hết các bang của Hoa Kỳ, các thành viên của công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể chỉ định một hoặc một số thành viên làm người quản lý hoặc bản thân họ trực tiếp thực hiện việc quản lý; trong khi đó, thành viên của công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn lại luôn thực hiện trức năng này một cách trực tiếp. So với công ty luật trách nhiệm hữu hạn thì công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn vẫn được các nhà đầu tư ở các nước ưa chuộng hơn bởi vì thủ tục thành lập các công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn đơn giản hơn rất nhiều so với thủ tục thành lập một công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Văn bản thỏa thuận điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa thành viên với công ty thuần túy mang tính chất riêng tư chứ không phải công khai và nộp bản điều lệ đến Thư ký bang giống như trường hợp công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Trong công ty không có Giám đốc và cũng không có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Hơn nữa, các nước có mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn theo hình mẫu của Anh, thay vì áp dụng luật điều chỉnh các công ty luật hợp danh thông thường, các luật về công ty (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần) sẽ được thay thế để điều chỉnh công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn; còn ở Hoa Kỳ và các nước có mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn theo kiểu của Hoa Kỳ, các công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn chính là các công ty luật hợp danh thông thường được đăng ký nên luật điều chỉnh công ty luật hợp danh thông thường sẽ được sử dụng để điều chỉnh các công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn mà không phải xây dựng luật mới. Nói cách khác, các đạo luật về hợp danh trách nhiệm hữu hạn thông đơn giản chỉ là những sửa đổi đối với các đạo luật về hợp danh thông thường hiện hành. Ngoài ra, về số lượng thành viên của hai loại công ty cũng có sự khác biệt, công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể có một hoặc hai thành viên trở lên, còn trong một công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, theo pháp luật của các quốc gia, đều phải có ít nhất hai thành viên. Ví dụ, Điều 22 Luật Hợp danh trách nhiệm hữu hạn năm 2005 sửa đổi năm 2006 của Singapore quy định: ‘Mỗi công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn phải có ít nhất hai thành viên’.

Mỗi hệ thống pháp luật đều có những lý do khác nhau cho việc thừa nhận mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn. Ví dụ, Hoa Kỳ cho phép thành lập các công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn với mục đích chính là bảo vệ những thành viên không có lỗi trước hành vi gây thiệt hại của thành viên khác. Hơn nữa, công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn cũng có những lợi thế giống các công ty luật hợp danh hữu hạn, cộng với ưu điểm là các thành viên có thể chủ động tham gia quản lý hoạt động kinh doanh một cách trực tiếp mà không phải chịu trách nhiệm trước hành vi gây thiệt hại của các thành viên khác vượt quá số vốn đã đầu tư vào công ty giống các thành viên trong công ty luật trách nhiệm hữu hạn, cũng là lý do để Hoa Kỳ xem xét việc cho phép thành lập mô hình kinh doanh này. Còn ở Anh, luật sư bao gồm hai loại là luật sư tư vấn (solicitor) và luật sư tranh tụng (barrister), trong đó, các luật sư tranh tụng (barrister) bị cấm thành lập công ty luật hợp danh. Chỉ các luật sư tư vấn (solicitor) mới được thành lập mô hình kinh doanh này. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, họ lại ít khi thành lập các loại công ty khác mặc dù từ ngày 01/01/1992 các luật sư ở Anh được phép hành nghề thông qua hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (limited company) hoặc công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company) do tác động của việc thực thi Luật Bình đẳng năm 1985 (Justice Act, 1985). Chính vì thế, xu hướng chủ yếu của các luật sư tư vấn ở Anh cũng là thành lập công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn để hoạt động (Legal Department – Financial services Commission, 2013, p. 11), Ở Đức, vì pháp luật không coi hoạt động của những người hành nghề “tự do” như luật sư, kế toán viên... là hoạt động thương mại nên họ không được đăng ký hoạt động dưới hình thức hợp danh thương mại (hợp danh thông thường) mà phải hoạt động dưới hình thức hợp danh dân sự. Tuy vậy, do một số hạn chế của mô hình hợp danh dân sự (chế độ trách nhiệm vô hạn, không có tư cách pháp nhân...) nên các luật sư thường không thành lập mô hình này nữa. Do đó, để tạo điều kiện cho hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của những nhà đầu tư này, Đức đã ban hành Luật Hợp danh năm 1994 cho phép các luật sư thành lập các hợp danh phi thương mại, tức là các hợp danh chuyên nghiệp (Andreas Cahn and David C. Donal, 2010, p. 28). Các hợp danh phi thương mại (non-trading partnerships) của Đức về hình thức và mục đích giống với mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn của các nước khác (Anh, Mỹ, Singapore...). Trung Quốc gần đây cũng đi theo khuynh hướng mở rộng chế độ trách nhiệm hữu hạn để áp dụng vào các công ty hợp danh nói chung và công ty luật hợp danh nói riêng. Vào năm 2006, một phiên bản mới của Luật Công ty hợp danh Trung Quốc đã được ban hành quy định về công ty hợp danh đặc biệt - Special general partnership (China, Partnership Enterprise Law, 2006, s. 55) để các luật sư có thể thành lập và hoạt động, loại công ty này cũng tương tự các công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn của các quốc gia khác, được ra đời chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của các thực thể hoạt động nghề nghiệp như các công ty luật. Tuy nhiên, không phải hệ thống pháp luật nào cũng cho phép các luật sư thành lập công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, một số ít quốc gia, ví dụ Nhật Bản, cấm các luật sư hoạt động dưới hình thức này, bởi theo quan niệm của người Nhật, nghề luật sư đòi hỏi phải kinh doanh dưới hình thức của một thực thể có trách nhiệm vô hạn (Legal Department, Financial Services Commission, 2013, p. 11).

Từ sự phân tích trên có thể thấy, pháp luật của hầu hết các nước đều cho phép thành lập công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, còn Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 của Việt Nam chỉ cho phép thành lập công ty luật hợp danh thông thường, tức là với ít nhất hai luật sư là thành viên hợp danh, mà không có thành viên góp vốn là đã hạn chế hình thức pháp lý của mô hình kinh doanh này. Thiết nghĩ, trước yêu cầu hội nhập, để phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, việc thừa nhận thêm các biến thể khác của của công ty luật hợp danh là cần thiết. Điều đó vừa tạo thuận lợi cho các luật sư có nhiều sự lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp, lại vừa thúc đẩy sự phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Có thể nói, các nhà làm luật của Việt Nam khi xây dựng Luật Doanh nghiệp đã chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống pháp luật về doanh nghiệp của Anh - Mỹ. Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, hầu hết các bang đã ban hành Luật Hợp danh trách nhiệm hữu hạn; còn ở Anh, các luật sư tư vấn (solicitor) và luật sư sở hữu trí tuệ (patent attorney) không được phép hành nghề dưới các hình thức công ty khác nên công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn ngày càng được họ ưa chuộng hơn. Ở Việt Nam, Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 đã cho phép thành lập công ty luật hợp danh thông thường và công ty luật trách nhiệm hữu hạn thì cũng nên ghi nhận thêm mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, vì chính sự xuất hiện của các công ty luật trách nhiệm hữu hạn trong nền kinh tế thị trường là một trong những lý do chủ yếu khiến công ty luật hợp danh thông thường trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Ngoài ra, mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, xét trên nhiều phương diện, cũng rất phù hợp với các chuyên gia nói chung và các luật sư nói riêng bởi nó trao cho các thành viên cơ hội như nhau trong việc trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh, có cơ cấu tổ chức linh hoạt, các thành viên có thể tham gia hoặc rút khỏi mà công ty không bị giải thể... Mặc dù mô hình côn ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn theo kiểu của Hoa Kỳ là những hình thức tiên phong có xuất phát điểm là các công ty luật hợp danh thông thường, song mô hình công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn theo kiểu của Anh trong những năm gần đây cũng rất phổ biến. Pháp luật của Trung tâm tài chính quốc tế Dubai cũng đã thừa nhận mô hình hợp danh trách nhiệm hữu hạn vào năm 2004, cùng với pháp luật của Trung tâm tài chính láng giềng Quatar ghi nhận mô hình này vào năm 2005... Để hạn chế bớt rủi ro của chế độ trách nhiệm vô hạn cũng như duy trì những lợi thế nhất định đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn thì hình thức công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn có lẽ sẽ là một trong những sự lựa chọn tốt nhất đối với các luật sư của chúng ta trong thời gian tới.

Kết luận

Công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn là một phương tiện kinh doanh rất phù hợp đối với các chuyên gia đặc biệt là các luật sư, nó kết hợp được cả ưu điểm của thành viên trong các công ty đối vốn là chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp vào công ty và cả ưu điểm của các công ty đối nhân (các công ty hợp danh) là cơ cấu tổ chức bên trong linh hoạt, chi phí vận hành thấp, thủ tục thành lập đơn giản, lại chỉ phải chịu thuế một lần giống các công ty luật hợp danh thông thường... cho nên đây là một trong những mô hình kinh doanh được giới luật sư ưa chuộng nhất hiện nay. Các công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn đã được rất nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới ghi nhận và đã chứng tỏ được tính ưu việt của nó trong quá trình. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của các nước để nghiên cứu và tạo khung khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của mô hình này trong tương lai. Điều này vừa thu hút được các nguồn vốn đầu tư, vừa đảm bảo quyền tự do và tăng khả năng lựa chọn hình thức kinh doanh của các nhà đầu tư đồng thời cũng phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới.

 

 ThS. Đồng Thái Quang

 

                                                                                                                                             - Theo tạp chí pháp luật và phát triển -

 

Copyright © 2014 Hội Luật gia Việt Nam

Viện Nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN

Tầng 3, Tòa tháp Ngôi sao (Star Tower), đường Dương Đình Nghệ, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Email: vienaseanvn@gmail.com * Điện thoại: 04 62634949

Powered by NetLink Tech