Kết nối trí tuệ vì sự phát triển bền vững * Connecting Think - Tank for sustainable development

Nhiếp ảnh Việt Nam, những góc nhìn

Với sự trợ giúp của kỹ thuật, chỉ vài thập kỷ nhiếp ảnh đã có những chuyển biến vượt bậc. Từ sự sao chép hình ảnh ban đầu, người ta đã bắt đầu lựa chọn những khoảnh khắc, rình rập chờ đợi sự xuất hiện những giây phút điển hình.

Với sự trợ giúp của kỹ thuật, chỉ vài thập kỷ nhiếp ảnh đã có những chuyển biến vượt bậc. Từ sự sao chép hình ảnh ban đầu, người ta đã bắt đầu lựa chọn những khoảnh khắc, rình rập chờ đợi sự xuất hiện những giây phút điển hình. Giá trị của ảnh bây giờ được tạo nên bởi tư duy sắc bén, cái nhìn tinh tuý. Ảnh trở thành một sản phẩm mang tính chất chủ quan có ý thức của người cầm máy trước đối tượng diễn ra một cách khách quan trong thế giới tự nhiên.

 

dsc_5013 the thao nguoi khuyet tat bob martin

Thể thao người khuyết tật, Bob Martin

 

Hỗ trợ cho việc thể hiện, khoa học kỹ thuật đóng vai trò không nhỏ. Hàng loạt những loại ống kính máy ảnh ra đời cùng với những bộ kính lọc đặc chủng. Người ta có thể đưa lên mặt phẳng không gian hai chiều những hình ảnh hiện thực mà mắt người không thể nhìn thấy được. Tính triết lý, bản chất sự việc được phát hiện thường nằm sâu trong cái hiện thực mà nhiếp ảnh có thể tái tạo. Đối tượng trước ống kính được phức tạp hoá, biến dạng tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ hơn với tâm lý con người. Hơn lúc nào hết khi nhiếp ảnh đã đủ độ chín và chiều sâu nhiều cung bậc, mỹ học nhiếp ảnh bắt đầu bộc lộ sự thiết yếu của nó đối với cả người chụp và người thưởng thức ảnh.

Lâu rồi những nhà nhiếp ảnh Việt Nam đã mải miết “đi tìm cái đẹp”, cái đẹp là mục tiêu của những người cầm máy. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy việc tạo hình và bố cục rất được coi trọng đối với các tay máy Việt Nam. Các ý niệm về không gian và bố cục truyền thống theo tỷ lệ vàng có trong mọi bức ảnh. Việc quá coi trọng về tạo hình, bố cục làm cho họ lãng quên và ít chú ý tới cái  khoảnh khắc quyết định làm nên sự kỳ diệu của bức ảnh. Chính vì vậy những bức ảnh của ta chụp gần như là bản sao của sự kiện, làm cho những bức ảnh chỉ là hình ảnh của một sự ghi nhận, sao chép hiện thực với một định kiến có sẵn hoặc bắt chước hơn là sự tìm tòi phát hiện để diễn tả.

 

3cct

Đói, Tom Stoddart

 

dsc_4969 trong hanh lang bao tang1 tino soriano

 

Trong hành lang bảo tàng, Tino Soriano

 

 

Nhiều ảnh của chúng ta có trạng thái “trầm cảm”, mặc dù trong ảnh rất nhiều chi tiết và  sắc màu. Một ký giả người Đức, ông J.Peter, khi xem triển lãm ảnh Việt Nam đã thốt lên rằng: Những bức ảnh ở đây thật ồn ào mà kiệm lời. Trong  ảnh, thay vì những gì đang diễn biến, những khoảnh khắc điển hình, cái cốt lõi của sự vận động là một sự tĩnh lặng sâu xa. Trong ảnh không đọng lại dấu ấn của thời gian, yếu tố làm nên độ bền của ảnh mà có nó người xem hiểu thấu đáo hơn ý định truyền tải của tác giả hướng tới tương lai. Những bức ảnh như vậy là những bức ảnh vô hồn, mù mờ và thiếu dẫn dắt định hướng, mặc dù tác giả bộc lộ tất cả ý định của mình bằng tạo hình lộ liễu, không che dấu, nhưng để nó thành hiệu quả thiết thực thì hầu như rất ít ỏi.

Những nhà nhiếp ảnh Việt Nam, nhất là những người đi lên từ nhiếp ảnh phong trào, ngoài việc họ chỉ tập trung vào bố cục, ít quan tâm tới khuôn hình mà còn lầm lẫn coi bố cục và khuôn hình là một. Trong khi bố cục và khuôn hình là hai phạm trù khác nhau và cái nào cũng có sức nặng của nó. Có thể nhận xét được điều này vì khi xem triển lãm, đa số ảnh na ná nhau, đôi khi nó giống nhau một cách khổ đau. Ảnh trở thành mang tính biểu trưng nhiều hơn là sự phát hiện và diễn tả. Các nhà nhiếp ảnh có khuynh hướng hòa trộn những ý nghĩa chung cho những hiện tượng riêng biệt. Một  nhà phê bình mỹ thuật người Mỹ xem triển lãm ảnh chân dung những bà mẹ Việt Nam khi được hỏi cảm tưởng đã nói: Ảnh thật là đẹp, nhưng dường như ở đây người ta lấy một bà mẹ chia đều ra cho nhiều bà mẹ khác nhau. Ngược lại ở đất nước chúng tôi người ta lấy nhiều bà mẹ khác nhau để làm nên diện mạo một bà mẹ chung mang cá tính dân tộc. Trong lúc các nhà nhiếp ảnh khác trên thế giới chú tâm nhiều hơn trong cách thể hiển sự khác biệt giữa những con người và tính cách đặc thù của mỗi cá nhân thì các nhà nhiếp ảnh Việt Nam lại tận tụy thể hiện sự tương tự và đồng nhất.

Ở đây sự khiếm khuyết về kiến thức cơ bản và sự thấu đáo về mỹ học bộc lộ rất rõ trong nhiếp ảnh chuyên nghiệp. Nhiếp ảnh Việt Nam đến nay vẫn chỉ chú trọng đến nhiếp ảnh phong trào và dừng chân ở đó khá lâu rồi! Xét cho cùng cái gì là phong trào cũng phải có điểm dừng, như phong trào “Toàn dân xóa nạn mù chữ”, hay “Nghìn việc tốt” của thiếu niên nhi đồng đều có thời gian, diễn ra trong những bối cảnh nhất định và có dừng lại khi nó biến thành văn hóa, thành ý chí phấn đấu vươn lên, thành bản chất, thành tính cách con người…. Không thể có nhiếp ảnh phong trào trên dưới 40 năm vẫn mãi mãi là phong trào. Xin thưa, phi thời gian cũng đồng nghĩa với phi kết quả!

Nhớ lại cách đây không lâu, trong phong trào nhiếp ảnh Việt Nam người ta thường nhắc nhở và phê phán tính tự nhiên chủ nghĩa trong việc ghi hình (sáng tác ảnh) thì giờ đây người ta lại phải kêu gọi các nghệ sỹ hãy trở lại gần với cuộc sống hơn, tránh sự trang điểm quá trau chuốt, bố trí, áp đặt và tưởng tượng trong sáng tác ảnh. Nhiều người cầm máy nghĩ mình là nghệ sỹ sáng tác nên chỉ chú trọng đến “nghệ thuật” mà quên đi họ đang là một nhà nhiếp ảnh, một người làm công việc phát hiện và ghi nhận thực tế. Đó là tính riêng biệt và cũng là tính ưu việt của hiện thực trong nghệ thuật nhiếp ảnh mà tự thân nó gắn bó với cuộc sống.

 

p1080314 sau buoi dien leon balodis

Sau buổi biểu diễn, Leon Balodis

 

p1080311 hanh phuc peter jaunsems

Hạnh Phúc, Peter Jaunsems

 

Cũng xuất phát từ quan điểm này, lấy con người làm đối tượng chính, trong giới nhiếp ảnh thường gọi là ảnh đời thường nên ống kính hướng vào cuộc sống nghèo khổ lầm than, cơ nhỡ. Đúng là cuộc sống thường nhật thật đa dạng và thú vị, nhưng lại đòi hỏi nhiều kiến thức và cảm xúc để phát hiện. Bởi vậy mà nhiều người cầm máy né tránh, vì không cẩn thận thì tác phẩm sẽ trở thành những bức ảnh phản cảm, bôi bác, tiêu cực, không đúng với tiêu chí “đi tìm cái đẹp”. Người ta miệt mài đi tìm cái đẹp nhưng dường như họ chỉ nắm bắt được những cái đẹp có tính phổ cập, khái quát mà quên đi, hay không đủ năng lực để phát hiện và nắm bắt những vẻ đẹp cá tính, của tâm hồn, của lương tri và lòng lương thiện. Chẳng thế mà nghệ thuật nhiếp ảnh còn được gọi là nghệ thuật của cái nhìn. Ký sự “Hai mẹ con Mùi & Phả” là của Justin Maxon là một ví dụ. Anh đã nhìn thấy trong “tội lỗi”, trong sự nghèo túng một tình yêu. Anh tâm sự: Hai mẹ con chị có vẻ lẻ loi giống tôi. Có một điều kỳ lạ ở họ đã làm tôi thay đổi, đó là việc tìm thấy hạnh phúc từ nội tại. Còn Maika Elan (Nguyễn Thanh Hải) thì lại toát lên cái nhìn thông cảm và đầy lương thiện đối với những người đồng tính. Chị lấy cảm xúc hướng dẫn cái nhìn để bấm máy. “Cái tôi thích nhất là những góc ảnh đời thường, gần gũi với cuộc sống của mình. Một góc phố nhỏ, một cảnh sinh hoạt thường ngày, một con hẻm cũ...cũng mang đến cho tôi cảm xúc để bấm máy”. Chị giãi bầy sau khi nhận giải quốc tế.

Điều này chúng minh rằng để có được cái nhìn thấu đáo phụ thuộc rất nhiều vào cảm nhận của tác giả trước thực tế cuộc sống. Nói như nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hữu Tuấn: “Trong chúng ta, bất kỳ ai cũng từng có lúc nhìn ra cái gì đó ngoài những cái đang xảy ra trước mắt. Đứng trước biển, ai cũng nhìn thấy mình mỏng manh. Nhìn đám trẻ lang thang, thấy ra cái lỗi lầm của ai đó. Có nhiều người chụp ảnh thiên về cái đẹp, đó cũng là một cái mạnh của nhiếp ảnh, nhưng ít người chụp được cái đẹp bên trong đúng vào lúc nó hiện ra bên ngoài.”

Giữa khoảng tưởng như có lý và phi lý, đúng và không đúng lại là một tâm trạng dễ cảm nhận được hơn là lý giải. Có những cách tiếp cận như vậy về đề tài lớn lao ở tận trong sâu thẳm con người không kém phần da diết. Người ta cần một cách lý giải không hề lập lại trước những vấn đề cũ đã nhiều lần khai thác. Mỗi tác phẩm như một mảnh ký ức, mang khát vọng của nghệ thuật và lấp lánh một bản sắc riêng.

Cái hay trong ảnh là phản ánh đầy đủ sự kiện xảy ra và nói lên được ý tưởng của tác giả, nó tác động mạnh mẽ và đưa người xem đi xa hơn những gì thấy trên ảnh. Bức ảnh như vậy có cảm xúc và tạo ra cảm xúc. Đẹp mà không hay là tấm ảnh bỏ đi, hay mà không đẹp cũng là chưa đủ. Nhà nghiên cứu nhiếp ảnh Klaus Stock, Thuỵ sỹ thì nhận xét: Rõ ràng ảnh của Việt Nam đẹp bởi cảnh, bởi người. Còn chiều sâu của ảnh ta phải nói rằng rất nhiều bức chưa có chiều sâu. Chưa thấy những số phận con người, mà số phận con người bao giờ cũng là đối tượng của nghệ thuật.

Trong nhiều cuộc hội thảo của Hội NSNA Việt Nam đã kêu gọi nhiếp ảnh nghệ thuật gần gũi hơn với cuộc sống. Bởi người ta dễ dàng nhận thấy nhiều triển lãm  đâu đó vẫn có hình ảnh cô gái mang trên vai 2 bao xi măng mà miệng vẫn cười duyên, không có một tí sức căng nào trên cơ thể, không một giọt mồ hôi…; Vẫn có cảnh người cha đi phun thuốc trừ sâu mang đứa trẻ theo sau té nước lên những cái cây đã ngập tràn trong nước làm nền cho ảnh; Và cả cụ già râu tóc bạc phơ đeo kính với cái búa, cái đục nghển cổ khắc danh sách người hy sinh lên bia đá khi mà tấm bia đó đã được dựng lên cao mà hàng lối, dòng kẻ vẫn thẳng tắp; hay nghệ sỹ ôm đàn biểu diễn ngay cạnh thác nước đang ầm ầm đổ xuống…. Những điều phi lý như thế dù nghệ thuật đến đâu cũng cần loại bỏ. Đương nhiên ảnh nghệ thuật thì có tính ước lệ, nhưng ước lệ và phi lý là hai điều đối lập hẳn nhau.

Việc nêu lên một số thực trạng hiện có ở Nhiếp ảnh Việt Nam là để hiểu rõ tình hình nhiếp ảnh của ta và thế giới, hiểu rõ được mình để có phương hướng phát triển phù hợp với hiện tại. Bên cạnh những mặt yếu cần hoàn chỉnh, nhiếp ảnh Việt Nam cũng đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng trân trọng. Henri Cartier-Bresson từng nói: Mỗi cú bấm máy là một lời kết luận về cái chúng ta đã nhìn thấy và phản ánh một vấn đề nghiêm túc của trí tuệ. Chúng ta làm việc bằng cách diễn đạt thực tế chứ không phải là lặp lại. Bởi vậy chúng ta phải khám phá, phát hiện chứ không phải làm công việc sản xuất ảnh.

                                                               N.T

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số 09/2013)

 

 

 

Copyright © 2014 Hội Luật gia Việt Nam

Viện Nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN

Tầng 3, Tòa tháp Ngôi sao (Star Tower), đường Dương Đình Nghệ, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Email: vienaseanvn@gmail.com * Điện thoại: 04 62634949

Powered by NetLink Tech