Kết nối trí tuệ vì sự phát triển bền vững * Connecting Think - Tank for sustainable development

PHƯƠNG THỨC KHỞI KIỆN VÀ VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN TRONG THỰC HIỆN QUYỀN ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG *

Tóm tắt: Khởi kiện cá nhân hay còn được gọi là khởi kiện riêng lẻ, khởi kiện tập thể và vấn đề đại diện khi thực hiện quyền đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra đang là vấn đề cần được làm rõ cả về lý l

 

                                                                                                                                                                                         ThS. Lê Văn Hợp**

Tóm tắt: Khởi kiện cá nhân hay còn được gọi là khởi kiện riêng lẻ, khởi kiện tập thể và vấn đề đại diện khi thực hiện quyền đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra đang là vấn đề cần được làm rõ cả về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật. Qua thực tiễn áp dụng pháp luật những năm qua cho thấy, phương thức khởi kiện tại toà án rất ít được sử dụng, lý do là gì? để thực hiện quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại và được bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường trong sản xuất kinh doanh gây ra, tổ chức, cá nhân phải thực hiện trình tự, thủ tục như thế nào? cần có những điều kiện gì, căn cứ gì để chứng minh thiệt hại? thực hiện các biện pháp nào để buộc tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thực hiện việc bồi thường thiệt hại là những vấn đề cần được nghiên cứu, cụ thể hóa để những người bị thiệt hại có thể sử dụng để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bài viết này trao đổi, làm rõ hơn những quy định của pháp luật khi thực hiện các phương thứckhởi kiện và vấn đề đại diện khi khởi kiện tại tòa án.

Từ khóa: khởi kiện tập thế, đại diện, thiệt hại môi trường

Thực hiện chính sách đổi mới, tạo môi trường đầu tư thông thoáng để phát triển kinh tế - xã hội đã thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phát triển mạnh. Nhiều nhà máy lớn, khu công nghiệp, làng nghề được đầu tư xây dựng, đi vào hoạt động, đã tạo việc làm cho hàng chục triệu lao động và tạo ra một lượng lớn sản phẩm, hàng hóa để phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu. Tuy nhiên, việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường chưa thực sự được chú trọng, vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang trở nên nghiêm trọng ở nhiều địa phương, ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người và tài sản của nhiều tổ chức, cá nhân.

Theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường thì thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm hai loại: suy giảm chức năng, tính hữu ích của

 

 

* Bài viết này được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài “Những vấn đề pháp lý trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam” thuộc chương trình NCKH năm 2018 của Bộ Tư pháp

** Phó Viện trưởng Viện PL và KT ASEAN - Nguyên Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ TN và MT

môi trường; và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra (Luật BVMT 2014, Điều 163). Việc xác định thiệt hại đối với môi trường đã được quy định tại Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường (Nghị định số 03/2015/NĐ-CP). Tuy nhiên, Nghị định này chỉ quy định về xác định thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trong các trường hợp sau đây: (1) Môi trường nước phục vụ mục đích bảo tồn, sinh hoạt, giải trí, sản xuất và mục đích khác bị ô nhiễm, bị ô nhiễm ở mức nghiêm trọng, bị ô nhiễm ở mức đặc biệt nghiêm trọng; (2) Môi trường đất phục vụ cho các mục đích bảo tồn, sản xuất và mục đích khác bị ô nhiễm, bị ô nhiễm ở mức nghiêm trọng, bị ô nhiễm ở mức đặc biệt nghiêm trọng; (3) Hệ sinh thái tự nhiên thuộc và không thuộc khu bảo tồn thiên nhiên bị suy thoái; và (4) Loài được ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật bị chết, bị thương. Đồng thời, Nghị định số 03/2015/NĐ-CP của Chính phủ cũng quy định việc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của môi trường bị ô nhiễm, suy thoái được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự. Xét ở khía cạnh bảo vệ quyền con người thì việc buộc người gây ô nhiễm phải trả giá là một trong những biện pháp đảm bảo quyền con người.

Điều 43 của Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Như vậy, được sống trong môi trường trong lành là quyền của mỗi người dân Việt Nam. Người gây ô nhiễm môi trường đã xâm hại quyền hiến định của người khác, gây thiệt hại tài sản và sức khỏe, tính mạng của họ nên buộc họ phải bồi thường, phải khắc phục là trách nhiệm pháp lý. Người bị thiệt hại có thể sử dụng các công cụ pháp lý luật định để buộc người gây thiệt hại phải bồi thương. Đương nhiên họ có quyền khởi kiện đòi bồi thường.

  1. hởi kiện cá nhân và vấn đề đại diện khi khởi kiện cá nhân trong pháp luật hiện hành

Hiện tại, pháp luật Việt Nam đã tạo ra được những cơ sở pháp lý vững chắc cho các tổ chức, cá nhân đòi bồi thường thiệt hại, nhất là trong Luật môi trường 2014, Nghị định số 03/2015/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015.  Khi thiệt hại do môi trường bị ô nhiễm, suy thoá, các cơ quan quy định tại Điều 3, như Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp và Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) có trách nhiệm xác định thiệt hại, yêu cầu bồi thường thiệt hại và quyết định thực hiện một trong ba phương thức giải quyết bồi thường thiệt hại đối với môi trường gồm: (1) Thỏa thuận việc bồi thường với người gây thiệt hại; (2) Yêu cầu trọng tài giải quyết; và (3) Khởi kiện tại tòa án. Trường hợp thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của môi trường bị ô nhiễm, suy thoái thì tổ chức, cá nhân tự mình thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự, bằng một trong hai phương thức: (1) Thỏa thuận việc bồi thường với người gây thiệt hại, hoặc (2) Khởi kiện tại Tòa án.

Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khoản 1 Điều 188 của BLTTDS 2015 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. Khoản 2 Điều 188 của BLTTDS 2015 quy định rằng nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cùng khởi kiện một cơ quan, một tổ chức, một cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.

 Điều 187 BLTTDS 2015 cũng đã quy định về “Người đại diện” có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Cụ thể, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật. Từ các quy định và cách hiểu như trên, các phương thức khởi kiện và vấn đề đại diện trong việc đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra được trao đổi cụ thể dưới đây:

Khoản 1 Điều 162 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Luật BVMT 2014) quy định: Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Như vậy, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện (khởi kiện cá nhân) đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường để yêu cầu bồi thường thiệt hại và phải thực hiện trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, để khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đòi bồi thường thiệt hại, tổ chức, cá nhân phải xem xét đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện vụ án dân sự như: (1) Điều kiện về chủ thể khởi kiện; (2) Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; (3) Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện; và (4) Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật. Người khởi kiện làm đơn khởi kiện theo các bước như sau: (1) Thu thập chứng cứ, tài liệu chuẩn bị khởi kiện; (2) Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện; (3) Nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án và (4) Thực hiện các thủ tục cần thiết sau khi Tòa án ra thông báo thụ lý vụ án.

Điều 6 của BLTTDS 2015 quy định: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Theo quy định này, người khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường có nghĩa vụ phải chứng minh họ đã và đang bị thiệt hại và thiệt hại đó là do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra. Tuy nhiên, trong lĩnh vực môi trường, thiệt hại đối với tính mạng, sức khoẻ và tài sản luôn là thiệt hại gián tiếp, phát sinh từ thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Người khởi kiện muốn chứng minh được những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ do ô nhiễm môi trường thì phải chỉ ra được mối liên hệ giữa tình trạng ô nhiễm môi trường đó với những thiệt hại họ phải gánh chịu, trường hợp họ không chỉ ra được mối liên hệ này, thì họ khó có cơ hội được bồi thường thiệt hại đã xảy ra, vì có thể do nhiều nguyên nhân khác như thiên tai, dịch bệnh...

Một trong những việc quan trọng khi khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là xác định thiệt hại. Điều 589, 590, 591 của Bộ Luật dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định việc xác định thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng của tổ chức, cá nhân do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra để được bồi thường như sau:

Một là, thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm, bao gồm: (1) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; (2) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; và (3) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

Hai là, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: (1) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; (2) Chi phí hợp lý cho việc mai táng; và (3) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Ba là, trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được tính để bồi thường bao gồm: (1) Tài sản bị mất; (2) Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng; (3) Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; và (4) Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại. Trong đó, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản được hiểu là những tổn hại về lợi ích vật chất, sự giảm sút về thu nhập chính đáng mà nguyên nhân là do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Đây là những thiệt hại đối với người được phép khai thác, sử dụng một cách hợp pháp các thành phần môi trường, nhưng vì chúng đã bị ô nhiễm, suy thoái nên họ không thể tiếp tục khai thác, sử dụng hoặc phải khai thác, sử dụng một cách hạn chế, dẫn đến lợi ích vật chất của họ bị tổn hại. Thiệt hại về tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được thể hiện qua những tổn thất về cây trồng, vật nuôi, những khoản chi phí cho việc sửa chữa, thay thế, ngăn chặn và phục hồi tài sản bị thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên; những lợi ích hợp pháp từ việc khai thác, sử dụng các thành phần môi trường mà đáng lẽ tổ chức, cá nhân có được nếu chúng không bị ô nhiễm, suy thoái.

 Nghị định 03/2015/NĐ-CP của Chính phủ về xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra quy định UBND cấp huyện, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thu thập và thẩm định các số liệu, chứng cứ phục vụ việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa phương mình, gồm xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái; các thành phần môi trường bị ô nhiễm, suy thoái và khả năng lan truyền ô nhiễm; mức độ các thành phần môi trường bị ô nhiễm, suy thoái; quyết định, giấy phép, văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép sử dụng hoặc phê duyệt quy hoạch sử dụng các thành phần môi trường tại nơi xảy ra ô nhiễm, suy thoái... Trường hợp khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái nằm trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên thì Bộ TN&MT có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố liên quan phối hợp tổ chức thu thập và thẩm định các số liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra. Tuy nhiên, hiện tại pháp luật chưa có quy định trách nhiệm của UBND các cấp hoặc cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường trong việc cung cấp các số liệu, chứng cứ về ô nhiễm, suy thoái môi trường cho người bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản để hỗ trợ họ đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại trước Tòa.

Thực tiễn cho thấy các vụ kiện về đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do ô nhiễm môi trường gây ra rất khó có thể áp dụng các quy định về nghĩa vụ chứng minh như trong tranh chấp dân sự thông thường. Nghĩa vụ chứng minh trong các trường hợp này cần được tiếp cận theo hướng người nào chứng minh được thiệt hại đối với môi trường tự nhiên, người đó có thể chứng minh được mức độ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cũng như chứng minh được mối quan hệ giữa thiệt hại về môi trường tự nhiên với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản do thiệt hại về môi trường tự nhiên gây ra. Theo cách này, trách nhiệm trước hết thuộc về các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý môi trường, là bên có quyền và nghĩa vụ xác định thiệt hại gây ra đối với môi trường tự nhiên, từ đó làm cơ sở để xác định thiệt hại đối với tính mạng, sức khoẻ và tài sản của người dân, tạo điều kiện thuận lợi  để tổ chức, cá nhân có đầy đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh trước Tòa.

Giám định thiệt hại để yêu cầu bồi thường cũng là vấn đề cần làm rõ đối với trường hợp khởi kiện cá nhân, Điều 166 Luật BVMT 2015 đã quy định về giám định thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, cụ thể “Căn cứ giám định thiệt hại là hồ sơ đòi bồi thường thiệt hại, các thông tin, số liệu, chứng cứ và các căn cứ khác liên quan đến bồi thường thiệt hại và đối tượng gây thiệt hại”. Quy định này góp phần hỗ trợ tích cực cho việc thực hiện các quyền đòi bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân do ô nhiễm môi trường gây nên. Tuy nhiên, khi tiến hành khởi kiện cá nhân, chủ thể bị thiệt hại không có khả năng tiến hành giám định thiệt hại, vì hiện nay chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và cơ quan tiến hành giám định thiệt hại đối với các vụ khởi kiện cá nhân. Thực tế đã có các vụ việc khởi kiện bị bế tắc do không giám định được thiệt hại, ví dụ như vụ kiện của Bà Trần Anh năm 2010, địa chỉ số 28 Phong Phú, phường 12, quận  8, TP. HCM và Bị đơn là Cơ sở sản xuất bánh mỳ Tiến Phát, địa chỉ: 26 Phong Phú, phường 12, Quận 8, TP. HCM bị bết tắc, Tòa không xem xét, giải quyết vì không giám định được mức độ thiệt hại. Vị vậy, rất cần có các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và cơ quan có trách nhiệm giám định thiệt hại đối với vụ khợi kiện cá nhân về môi trường.

Về vấn đề đại diện, BLDS 2015 quy định: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”và “Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó. Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện (Điều 134).Tại Điều 135 quy định căn cứ xác lập quyền đại diện: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (gọi chung là đại diện theo pháp luật)”. Tại các Điều 136, 137 và 138 BLDS 2015 quy định rất chặt chẽ về đại diện theo pháp luật của cá nhân, đại diện theo pháp luật của pháp nhân và đại diện theo ủy quyền.

Điều 186 BLTTDS 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự và môi trường: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Như vậy, đối với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại thực hiện quyền khởi kiện cá nhân hoặc có thể thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện theo trình tự thủ tục pháp luật dân sự như đã phân tích tại phần nêu trên.

 3. Khởi kiện tập thể và vấn đề đại diện khi khởi kiện tập thể

Như đã phân tích ở trên, khởi kiện tập thể đã được quy định tại khoản 2 Điều 188 BLTTDS 2015. Tuy nhiên, khởi kiện tập thể cũng có thể là một số ít (hàng chục) chủ thể hoặc số nhiều (hàng trăm, hàng ngàn) chủ thể cùng khởi kiện một chủ thể để đòi bồi thường thiệt hại. Ngoài quy định tại khoản 2 Điều 188, chưa có quy định cụ thể nào về trình tự, thủ tục khởi kiện, đặc biệt là cơ chế đại diện cho khởi kiện tập thể. Vấn đề đặt ra là khi hàng trăm, hàng nghìn, thậm trí hàng vạn hộ gia đình, cá nhân và các đối tượng khác bị thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường, thì sẽ khởi kiện như thế nào? tất cả các đối tượng bị thiệt hại phải thực hiện quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại - khởi kiện tập thể, hay chỉ cần thông qua chế định đại diện để thực hiện quyền khởi kiện. PGS.TS Vũ Thị Duyên Thủy, cho rằng:

Tổ chức, cá nhân ở đây được hiểu là, tất cả các tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp về môi trường bị xâm phạm. Vậy thì, trong trường hợp quyền và lợi ích chung về bảo vệ môi trường bị xâm phạm (tình trạng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, suy thoái...) thì ai là người có quyền khởi kiện?”.Theo bà Thủy, nếu như vụ việc này phải giải quyết tại tòa án, thì toà án phải thụ lý cả ngàn vụ án dân sự, vì người bị thiệt hại lên tới con số hàng ngàn người. Song, thiệt hại của mỗi người lại không như nhau, nên không thể là “đồng nguyên đơn dân sự”. Nếu phải xét xử, một toà án cấp huyện cùng một lúc phải thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ án, sẽ tiến hành xét xử như thế nào, trong khi mỗi toà án cấp huyện nhiều lắm cũng chỉ khoảng 10 thẩm phán. “Không thể hình dung được điều gì sẽ xảy ra khi một toà án cấp huyện phải xét xử hàng ngàn vụ án trong một thời gian nhất định.   (Vũ Thị Duyên Thủy, 2014).

Thực tiễn giải quyết vụ việc gây ô nhiễm môi trường của Công ty Formosa Hà Tĩnh vừa qua và Công ty Vedan gây ô nhiễm môi trường tại huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai năm 2008 cho thấy, nếu tất cả các hộ nông dân bị thiệt hại trong các vụ việc này đồng loạt khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại thì Tòa án sẽ phải tiếp nhận và thụ lý hàng ngàn vụ án cùng một thời điểm. Cụ thể, Vedan sẽ có 6.973 đơn kiện đồng nghĩa với Việc tòa án phải thụ lý và giải quyết 6.973 vụ kiện. Ths Lê Minh Hùng cho rằng nếu từng người dân đứng ra khởi kiện riêng lẻ thì số lượng vụ kiện tòa phải tiếp nhận rất lớn, trong khi vào thời điểm đó tòa cấp huyện đã quá tải. (Hồng Tú, 2010) Luật sư Nguyễn Văn Hậu  nhận định chỉ cần vài ngàn người khởi kiện, quá trình giải quyết tất cả các vụ án này cũng phải kéo dài vài năm. Trong khi đó, thời hạn luật định để giải quyết một vụ án dân sự tối đa không quá sáu tháng, như vậy, chắc chắn tòa sẽ vi phạm quy trình tố tụng. (Hồng Tú, 2010) Luật sư Nguyễn Văn Hậu cũng cho biết các nước khác như Malaysia, Singapore, Nhật… đều cho phép khởi kiện tập thể trong những vụ vi phạm liên quan đến số đông, đến cộng đồng. Nếu như quyền lợi của hội viên bị xâm phạm thì các tổ chức xã hội sẽ nhân danh các hội viên để trực tiếp khởi kiện. Theo Ths Lê Minh Hùng trong mỗi xã hội phát triển, các dạng vi phạm về môi trường và quyền lợi của người tiêu dùng xảy ra không phải là hiếm. (Hồng Tú, 2010)Do vậy, nhà nước cần có những chế định đặc biệt khi có các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại dạng này. Việc cho phép khởi kiện tập thể sẽ không những tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn giảm áp lực cho tòa án trong việc giải quyết các vụ án

Trong nhiều trường hợp, người được Nhà nước ủng hộ là các doanh nghiệp. Phần lớn tranh chấp môi trường có một bên tham gia là chủ đầu tư các dự án phát triển hoặc các cơ quan quản lý, trong khi phía bên kia chỉ là những người dân với những yêu cầu, đòi hỏi về chất lượng môi trường sống chung của con người. Trong những trường hợp như vậy, ưu thế thường thuộc về bên gây thiệt hại có tiềm lực lớn về kinh tế. Ưu thế của quá trình giải quyết xung đột thường nghiêng về phía bên gây hại cho môi trường. Sự bất tương xứng về vị thế giữa các bên là một trong những trở ngại lớn của quá trình giải quyết tranh chấp. Trở ngại này càng bộc lộ rõ hơn ở các quốc gia phải chịu nhiều áp lực từ mục tiêu phát triển kinh tế, giảm đói nghèo do mối quan tâm đến tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được đẩy lên trước mối quan tâm đến chất lượng môi trường sống (Luật Minh Khuê, 2018).

Mặt khác, thục tiễn giải quyết các vụ việc tranh chấp môi trường những năm qua cho thấy, hầu hết người bị thiệt hại chỉ được hỗ trợ, không được bồi thường theo đúng nghĩa và đúng quy định của pháp luật. Có một nghịch lý rằng, đây không phải là lần đầu tiên một doanh nghiệp tại Việt Nam gây ô nhiễm rồi tự xử lý hành vi vi phạm của mình bằng hỗ trợ nhân đạo, nhưng vẫn được sự chấp thuận một cách hồn nhiên của người dân cũng như sự đồng tình ủng hộ của chính quyền các địa phương. Như vậy, nhận thức về bản chất của chế định bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra dường như đã được hiểu sai lệch không chỉ bởi đông đảo cộng đồng dân cư mà còn của đại bộ phận cán bộ thực thi pháp luật môi trường. Thiết nghĩ, các nhà lập pháp và hành pháp của chúng ta cần đưa ra quan điểm rõ ràng về vấn đề này thông qua việc phân định đối tượng nào thuộc diện bồi thường, đối tượng nào được hỗ trợ trong số những chủ thể bị thiệt hại do hành vi xâm phạm môi trường gây ra. Bởi lẽ, khi chưa có nhận thức pháp lý đúng đắn để xác định sự việc chính xác thì khó giải quyết tranh chấp đúng pháp luật, đem lại sự công bằng trong xã hội (La Hà, 2016).

Đối với những tranh chấp bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường, người bị hại là người dân thường có vị thế yếu thế hơn so với người gây hại. Do đó, cần có sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan nghiên cứu. Tuy nhiên, sự hỗ trợ này phải dựa trên lợi ích của người dân và không thể xâm phạm tới quyền tự định đoạt của các đương sự trong mối quan hệ dân sự.

Sự tham gia của cơ quan quan lý nhà nước cũng như của Hội nông dân không nên và không được can thiệp quá sâu vào quyền định đoạt của các bên tranh chấp. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa những người dân bị thiệt hại với công ty Vedan là tranh chấp dân sự. Các ý kiến, kể cả bằng hình thức văn bản, của cơ quan hành chính nhà nước được nhìn nhận là những gợi ý, những ý kiến của người thứ ba trong quan hệ tranh chấp nhằm tìm ra những phương án giải quyết chứ không phải là những quyết định mang tính chất quyền lực buộc các bên tuân thủ. Hội nông dân được hiểu là tổ chức đại diện cho lợi ích của người nông dân. Khi lợi ích của người nông dân bị xâm hại thì tổ chức này có trách nhiệm, trong chức năng quyền hạn của mình, giúp hội viên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, diễn biến vụ việc cho thấy, có tình trạng Hội nông dân “chờ đợi ý kiến chỉ đạo” của cơ quan hành chính nhà nước và do đó có thể chưa thực hiện đúng, đủ và hết chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ theo Điều lệ Hội nông dân (Nguyễn Văn Phương, 2010)

Trong quá trình xây dựng Luật BVMT 2014, có nhiều ý kiến cho rằng nên có quy định giao cho các tổ chức xã hội hay tổ chức phi chính phủ. Hội bảo vệ thiên nhiên trong Hội nghị góp ý dự thảo Luật môi trường tổ chức ngày 28 tháng 2 năm 2014 đã đề xuất qui định để cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật. 

Mặc dù không có thống kê đầy đủ về số lượng vụ án đã được TAND thụ lý và giải quyết yêu cầu đòi BTTH liên quan đến môi trường, nhưng qua tổng kết hoạt động xét xử của TAND hàng năm, có thể thấy số lượng vụ án loại này được giải quyết không nhiều. Chúng tôi cho rằng cần mở rộng quyền khởi kiện vụ án về môi trường theo hướng các hội như (Hội Nông dân, Hội Bảo tồn Sinh vật Biển, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam,…) có quyền tự mình hoặc khi được ủy quyền khởi kiện vụ án môi trường bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (cá nhân, cộng đồng dân cư) (Bùi Thị Dung Huyền Phùng Thị Hoàn, 2015).

Tuy nhiên, đề xuất này chưa được xem xét đưa vào quy định tại Luật BVMT 2014 và trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được giao cho UBND các cấp và Bộ Tài nguyên và Môi trường.Nghị định số 03/2015/NĐ-CP quy định rõ ràng hơn đối với loại thiệt hại do bị suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, còn gọi là thiệt hại đối với các thành phần môi trường hay thiệt hại đối với môi trường tự nhiên, có phạm vi rộng, ảnh hưởng lớn không những đến môi trường tự nhiên, mà còn gây thiệt hại gián tiếp về tính mạng, sức khỏe con người và tài sản, lợi ích hợp pháp khác của cộng đồng dân cư trên một phạm vi rộng, thì UBND các cấp hoặc Bộ TN&MT sẽ thực hiện trách nhiệm xác định thiệt hại và khởi kiện, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại - thông qua chế định đại diện cho “tập thể” người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật. Như vậy, trường hợp UBND các cấp hoặc Bộ TN&MT khởi kiện theo quy định tại Nghị định số 03/2015/NĐ-CP được hiểu là Người đại diện theo quy định của pháp luật trong trường hợp “khởi kiện tập thể”.

Cộng đồng là một tập thể người không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, pháp luật ở nhiều quốc gia thường trao quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về môi trường nói chung cho chính quyền đại diện cho cộng đồng đó. Ở nhiều quốc gia, trong đó có Úc, Ấn Độ, Pakistan, Uganda v.v. pháp luật còn thừa nhận cho phép các tổ chức thuộc lĩnh vực xã hội dân sự có thể đứng đơn khởi kiện vì lợi ích cộng đồng (public interest litigation) trong trường hợp có hành vi gây thiệt hại cho môi trường nói chung ( Magelah Peter 2008).

Như vậy, theo quy định của pháp luật, đối với những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra thì các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại thực hiện quyền khởi kiện cá nhân theo trình tự thủ tục pháp luật dân sự như đã phân tích tại phần nêu trên. Đối với loại thiệt hại do bị suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, còn gọi là thiệt hại đối với các thành phần môi trường hay thiệt hại đối với môi trường tự nhiên, có phạm vi rộng, ảnh hưởng lớn không những đến môi trường tự nhiên, mà còn gây thiệt hại gián tiếp về tính mạng, sức khỏe con người và tài sản, lợi ích hợp pháp khác của cộng đồng dân cư trên một phạm vi rộng, thì các cơ quan quản lý nhà nước sẽ là người đại diện có trách nhiệm khởi kiện, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại.

Theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 03/2015/NĐ-CP thì UBND các cấp và Bộ TN&MT có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại và xác định thiệt hại đối với môi trường, cụ thể: (1) UBND các cấp, tổ chức, cá nhân phát hiện môi trường có dấu hiệu bị ô nhiễm, suy thoái có trách nhiệm thông báo cho cơ quan có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường quy định tại Khoản 2 Điều này; (2) Trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại được quy định như sau: (a) UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình. Trong trường hợp này, UBND cấp xã có trách nhiệm đề nghị UBND cấp huyện tổ chức thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra; (b) UBND cấp huyện có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ hai xã, thị trấn, thị tứ trở lên; (c) UBND cấp tỉnh có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ hai huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên; (d) Bộ TN&MT có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên; (3) Trách nhiệm thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường được quy định như sau: (a) UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn của mình, trừ trường hợp quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản này; (b) UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ hai huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên thuộc phạm vi quản lý của mình, trừ trường hợp quy định tại Điểm c Khoản này; (c) Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh tổ chức thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên: (4) Cơ quan thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường quy định tại Khoản 3 Điều này có trách nhiệm tính toán thiệt hại, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường và cung cấp kết quả cho cơ quan quy định tại Khoản 2 Điều này để yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường.

Quy định như trên cơ bản đã giải quyết được vấn đề nhiều người cùng bị thiệt hại, nhưng không phải cùng làm đơn giống nhau (hàng trăm, thậm chí hàng ngàn, hàng vạn đơn khởi kiện) gửi đến tòa án, góp phần làm giảm áp lực tiếp nhận, thụ lý các vụ án cho tòa án. Mặt khác thực hiện theo phương thức này đã góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả giải quyết vụ việc, vì các cơ quan hành chính nhà nước là các cơ quan vừa có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, vừa có thẩm quyền khởi kiện sẽ đảm bảo thực hiện cùng lúc, đồng bộ các công cụ quản lý giúp bảo đảm thực thi pháp luật bảo vệ môi trường hiệu quả hơn.

Như vậy, có thể khẳng định chế định khởi kiện tập thể quy định như hiện nay được thực hiện thông qua cơ quan quản lý nhà nước được coi là chế định, mô hình khởi kiện hợp lý, hiệu quả đối với việc đòi bồi thường thiệt hại về môi trường ở nước ta hiện nay trong trường hợp ô nhiễm môi trường ảnh hưởng gây thiệt hại ở phạm vi rộng lớn. Quan điểm này cũng được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đồng tình. Nhóm tác giả TS Vũ Thu Hạnh, TS Trần Anh Tuấn (2011) cũng khẳng định, quy định này đã: (1) Đề cao và ràng buộc hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, nhất là cơ quan quản lý môi trường về thực hiện quyền đòi bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên, tránh tình trạng các chủ thể này chỉ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính một cách “qua loa”. Hơn nữa, do nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh các thiệt hại đến môi trường tự nhiên do hành vi vi phạm pháp luật môi trường của các đối tượng gây hại nên quy định này buộc các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường phải đẩy mạnh hoạt động theo dõi, quan trắc, giám sát, kiểm soát ô nhiễm môi trường vốn được xem là khâu yếu nhất hiện nay của cơ quan quản lý môi trường địa phương; (2) Giúp giải phóng bớt gánh nặng cho các nguyên đơn là tổ chức, cá nhân bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản và lợi ích hợp pháp trong việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường (gây thiệt hại đối với môi trường tự nhiên) với thiệt hại về tài sản, tính mạng, tài sản do ô nhiễm môi trường gây ra mà trên thực tế không một tổ chức, cá nhân bị thiệt hại nào có thể làm được. Nghĩa vụ chứng minh thiệt hại đối với môi trường tự nhiên đã được các chủ thể có điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ tiến hành sẽ làm cho việc đòi bồi thường thiệt hại có căn cứ khoa học hơn; (3) Giúp tạo được áp lực cần thiết để ngăn chặn hành vi xâm hại môi trường của các đối tượng gây hại, đồng thời đảm bảo sự công bằng hơn đối với người gây ô nhiễm môi trường trong trường hợp môi trường bị ô nhiễm bởi nhiều đối tượng khác nhau. Mỗi đối tượng chỉ phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật cũng như tính chất và mức độ nguy hiểm của hậu quả mà họ gây ra. Trong trường hợp nhiều người gây thiệt hại thì trách nhiệm sẽ phải được xác định cho từng người, tránh tình trạng trách nhiệm chỉ dồn vào một đối tượng do không xác định được các đối tượng khác” (PanNature, 2011)  Theo Điều 17, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, đất đai, tài nguyên và môi trường thuộc sở hữu toàn dân, không phải là sở hữu tư nhân; và Nhà nước chính là chủ thể đại diện hợp pháp và duy nhất cho quyền sở hữu đó. Vì vậy, Nhà nước có quyền và có trách nhiệm bảo vệ các tài nguyên quốc gia của toàn dân; hay nói cách khác, Nhà nước có quyền và trách nhiệm khởi kiện và trừng phạt những ai làm tổn thất, gây mất mát, hay tối thiểu là giới hạn quyền của chủ sở hữu đối với đất đai, tài nguyên và môi trường. Khi tài nguyên bị xâm hại, chính Nhà nước cũng là bên bị hại. Và như vậy, Nhà nước cũng có đủ tư cách pháp lý để đứng đơn kiện Công ty Vedan (Thiennhien.Net, 2009). PGS.TS Phạm Văn Lợi, ThS. Trần Mai Phương (2017) cho rằng nếu chính quyền trực tiếp đứng ra tiến hành khởi kiện, những khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, chứng minh hành vi trái pháp luật, chứng minh thiệt hại mà doanh nghiệp vi phạm gây ra cho môi trường nói chung và cho người dân sẽ dễ dàng hơn”.

Pháp luật Việt Nam về quyền khởi kiện vì lợi ích công về môi trường và kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho rằng: “Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ quy định quyền khởi kiện của cơ quan nhà nước để khôi phục thiệt hại đối với môi trường tự nhiên. Tại sao quyền này lại không được trao cho tổ chức, cá nhân cũng xuất phát từ nguyên do của nó. Lý thuyết truyền thống về quyền khởi kiện vốn chỉ cho phép cá nhân, tổ chức đứng ra khởi kiện nếu quyền và lợi ích hợp pháp của chính cá nhân, tổ chức đó bị xâm hại. Song, môi trường lại mang tính chất là tài sản chung, tài sản đồng nhất, không phải của riêng ai nên tổ chức, cá nhân không thể đại diện cho lợi ích chung để tiến hành khởi kiện. Do đó, chỉ có chủ thể là nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng là chủ thể quản lý duy nhất đối với các nguồn tài nguyên này, mới có quyền tiến hành các biện pháp về mặt pháp lý, kể cả quyền khởi kiện để khôi phục lợi ích công về môi trường.”(khpl.moj.gov.vn)

Theo bà Thủy, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam cho rằng trong những trường hợp như Vụ Vedan, nếu UBND của ba địa phương gồm Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Tp Hồ Chí Minh đứng nguyên đơn kiện Công ty Vedan ra toà án, thì chỉ có ba vụ án và việc giải quyết của toà án cũng sẽ dễ dàng hơn và cũng chính xác hơn. Như vậy, quyền lợi của hàng ngàn người sống ở ven sông Thị Vải vẫn được bảo vệ. Vai trò đứng đơn kiện đòi bồi thường nên dành cho UBND sẽ hợp lý hơn. Vì về nguyên tắc, UBND là cơ quan đại diện pháp luật cho pháp nhân hành chính công quyền ở từng cấp địa phương, còn cơ quan TN&MT chỉ là cơ quan tham mưu”. Tuy nhiên, các trường hợp ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất nhỏ, các làng nghề…trong phạm vi một khu dân cư thì chế định khởi kiện tập thể vẫn còn một số vướng mắc, cần có những quy định cụ thể hơn để người bị thiệt hại có thể thực hiện được quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại.  

Nhìn chung, các phương thức khởi kiện cá nhân, khởi kiện tập thể và vấn đề đại diện trong thực hiện quyền đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra đã được quy định tương đối đầy đủ trong hệ thống pháp luật hiện nay. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, việc thực hiện, áp dụng pháp luật trên thực tiễn vẫn còn một số bất cập, như: (1) quy định người khởi kiện (Khởi kiện cá nhân) phải thu thập chứng cứ, chứng minh thiệt hại là rất khó thực hiện. Đây là điểm cần có quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường trong việc giúp người bị thiệt hại là tổ chức, cá nhân có đủ chứng cứ, tài liệu để khởi kiện; (2)  khi chính quyền địa phương không thực hiện hết trách nhiệm của mình, chủ động khởi kiện cơ sở gây ô nhiễm môi trường để bảo vệ quyền, lợi ích chung cho một cộng đồng, thì những người dân sống xung quanh các khu công nghiệp, làng nghề luôn là người chịu thiệt hại rất lớn. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các chế định này, đảm bảo hoàn thiện hơn và thực hiện hiệu quả hơn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cả người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hiến pháp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013.

  1. Quyền khởi kiện bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường ở Việt Nam – Cơ sở pháp lý và quy trình thực hiện’, Trung tâm Con người và Thiên nhiên PanNature
  2. <https://baomoi.com/vu-vedan-kien-tap-the-duoc-khong/c/4257585.epi>

4. Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, Điều 163 ban hành ngày 23 tháng 06 năm 2014.

5. Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ về xác định thiệt hại đối với môi trường.

7. PGS.TS Nguyễn Văn Lợi, ThS Trần Mại Phương (2017), ‘Những vướng mắc, bất cập trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường’, Tạp chí Môi trường, số 9.

9. Luật sư Minh Khuê (2018) ‘Tranh chấp môi tr<

Copyright © 2014 Hội Luật gia Việt Nam

Viện Nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN

Tầng 3, Tòa tháp Ngôi sao (Star Tower), đường Dương Đình Nghệ, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Email: vienaseanvn@gmail.com * Điện thoại: 04 62634949

Powered by NetLink Tech