Kết nối trí tuệ vì sự phát triển bền vững * Connecting Think - Tank for sustainable development

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Tóm tắt: Xuất phát từ vị thế của chủ thể đi kiện nên việc được tiếp cận, nắm bắt các thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM là rất cần thiết đối với doanh nghiệp. Do đó, nhiều quy phạm đã được ban hành nhằm đảm bảo quyền ti

 

                                                                                                                                                                                        Mai Xuân Hợi[1]

            Tóm tắt: Xuất phát từ vị thế của chủ thể đi kiện nên việc được tiếp cận, nắm bắt các thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM là rất cần thiết đối với doanh nghiệp. Do đó, nhiều quy phạm đã được ban hành nhằm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các quy định hiện hành chứa đựng nhiều thiếu sót, chồng chéo nhau, dẫn đến quyền hợp pháp của doanh nghiệp chưa được bảo vệ triệt để. Vì vậy, công trình đã nghiên cứu một cách nghiêm túc để tìm kiếm các đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của doanh nghiệp đối với hoạt động thực thi các biện pháp PVTM của cơ quan nhà nước.

           

            1. Quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đối với hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM

Thực tiễn đã chứng minh, đôi khi cơ quan mang quyền lực nhà nước áp dụng các biện pháp PVTM không xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp hay của người tiêu dùng mà vì sự tác động của nhiều nguyên nhân khác quan trọng hơn. Điều này được Michael Moore (1990) khẳng địnhnhững đơn kiện từ những đơn vị bầu cử có sự thiên vị cho nhóm lợi ích nào đó khi nhóm này đòi phải được áp dụng thuế chống bán phá giá đối với doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài hay (R. Baldwin & J. Steagall 1991) cũng đã kết luận vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, ITC đúng là đã có dấu hiệu bị tác động bởi những áp lực cho chủ nghĩa bảo hộ, các phán quyết về chống bán phá giá nhằm tới bảo hộ cho ngành công nghiệp trong nước hoặc được Richard Dale (1981) tiếp tục nhấn mạnh bằng nhận định là người có kinh nghiệm thực tế thực thi Đạo luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ 1921, tôi có thể khẳng định chưa bao giờ có một vụ việc được xếp vào loại bán phá giá triệt tiêu đối thủ cạnh tranh...lý do cho việc áp dụng các biện pháp PVTM...là do bị tác động bởi cơ chế chính trị nhằm bảo hộ cho ngành sản xuất trong nước, đôi khi không vì lợi ích người tiêu dùng.

Lịch sử điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM tại Việt Nam cũng đã có những vụ việc bị ngừng điều tra hoặc đình chỉ điều tra giữa chừng hoặc không áp dụng biện pháp trừng phạt mà doanh nghiệp không hiểu vì sao, điển hình như vụ việc Đùi gà năm 2015, Cục Quản lý cạnh tranh đã làm việc ròng rã với Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ để hướng dẫn các thủ tục và nhận được sự đồng lòng của các bên và kết quả là Cục đã có đầy đủ yếu tố khởi kiện. Tuy nhiên, khi đã đủ căn cứ để tiến hành khởi kiện, áp thuế thì đột ngột dừng lại mà đa số doanh nghiệp và người tiêu dùng không rõ lý do, hoặc năm 2009, lần đầu tiên Việt Nam khởi xướng vụ việc toàn cầu đối với mặt hàng Kính nổi trong xây dựng theo đề nghị của đại diện các nhà sản xuất mặt hàng kính nổi trong nước, nhưng sau một thời gian điều tra, Cơ quan điều tra đã ra kết luận ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước không phải chịu thiết hại nghiêm trọng do do việc nhập khẩu ồ ạt hàng hóa nhập khẩu bị điều tra gây ra trước sự ngỡ ngàng của các doanh nghiệp trong nước hay một loạt các vụ việc khác liên quan đến mặt hàng Trứng Gia cầm, Giấy in, Dầu Đậu nành, Ống Gang đúc, Bột Nhựa, Tôn, Tỏi đến từ các doanh nghiệp nhập khẩu, đặc biệt từ doanh nghiệp của Trung Quốc cũng đã bị đình chỉ hoặc không bị điều tra.  Trước thực tế đó, xuất phát từ vị thế của mình nên khi có đơn đề nghị điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài thì doanh nghiệp rất cần được Cơ quan điều tra cung cấp những thông tin liên quan đến những câu hỏi như: Có hành vi bán phá giá của doanh nghiệp nước ngoài không; vì sao Cơ quan điều tra lại đình chỉ điều tra vụ việc hoặc thời hạn kết thúc điều tra là khi nào; trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra ra sao; Cơ quan điều tra có công bằng, khách quan hay không, v.v. Vậy, câu hỏi đặt ra là pháp luật quy định như thế nào để doanh nghiệp có quyền được tiếp cận các thông tin liên quan đến các kết quả điều tra, áp dụng biện pháp PVTM của Cơ quan điều tra.

Trên thế giới, quyền con người, quyền công dân, quyền được tiếp cận các thông tin từ các thiết chế mang quyền lực nhà nước đã được nhiều học giả nghiên cứu và pháp luật quốc tế cũng đã ghi nhận và bảo vệ, nổi lên trong số đó là học thuyết “pháp luật tự nhiên nhân” của các nhà tư tưởng lỗi lạc như Locke, Rousseau đã nhấn mạnh quyền con người là đặc quyền tự nhiên, quyền tự nhiên, “pháp luật tự nhiên” đứng trên, cao hơn pháp luật Nhà nước. Loke cho rằng, các quyền cơ bản, tự nhiên của con người bao gồm: quyền sống, quyền được tự do và quyền có tài sản hay (Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người của Liên Hợp Quốc 1948, Điều 19) đã nêu rõ, ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc giahoặc (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Điều 19) tiếp tục khẳng định mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực….

Ở Việt Nam, pháp luật cũng đã ghi nhận quyền được tiếp cận thông tin nói chung và quyền được tiếp cận thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM nói riêng. Quay về lịch sử lập hiến, ngay tại (Hiến pháp năm 1992, Điều 69) đã nghi nhậncông dân… có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật. Tiếp đến, (Hiến pháp năm 2013, Điều 25) khẳng định công dân có quyền tự do … tiếp cận thông tin. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Thể chế hóa quy định này, (Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Điều 2) đã giải thích thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra, và Điều 6 tiếp tục khẳng định công dân được quyền tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, trừ trường hợp đó là thông tin thuộc bí mật nhà nước, thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước…. Với cách quy định loại trừ này, cho phép hiểu là tất cả những thông tin do Nhà nước tạo ra thì công dân đều có đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin để biết, để hiểu trừ những thông tin bị cấm và tiếp cận có điều kiện (Luật Tiếp cận thông tin, Điều 2). Từ những luận giải này, người nghiên cứu đi đến kết luận: “Công dân có quyền đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chụp các thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra, trừ những thông tin bị cấm hoặc tiếp cận có điều kiện theo quy định của pháp luật”.

Luật Tiếp cận thông tin được ban hành để thể chế hóa quy định của Hiến pháp 2013 về quyền tiếp cận thông tin, nhưng những quy định tại văn bản này mang tính nguyên tắc chung. Trên cơ sở đó, trong từng lĩnh vực cụ thể, nhà lập pháp có những quy định cụ thể để cá nhân, tổ chức có thể tiếp cận thông tin trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau. Liên quan đến quyền tiếp cận các thông tin trong quá trình điều tra, áp dụngbiện pháp PVTM, (Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Điều 74, 75) quy định bên liên quan trong vụ việc điều tra được tiếp cận thông tin, tài liệu mà bên liên quan khác đã cung cấp cho Cơ quan điều tra, trừ thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc phải bảo mật thông tin, tài liệu theo yêu cầu của bên cung cấp thông tin, tài liệu. Cụ thể hóa quy định này, (Nghị định 10/2018/NĐ-CP, Điều 9) quy địnhcác bên (Bên yêu cầu, Bên bị yêu cầu) được tiếp cận các thông tin mà các bên liên quan khác cung cấp cho Cơ quan điều tra, và tiếp cận các thông tin về vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của Cơ quan điều tra, trừ những thông tin được bảo mật theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này. Đặc biệt, tại Thông tư số 06/2018/TT-BCT quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp PVTM cũng đã tiếp tục cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM, theo đó tại Điều 7 quy định về các thông tin được công khai trong trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM gồm: Tài liệu do bên liên quan cung cấp cho Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM; các thông báo của Cơ quan điều tra và Bộ Công Thương; tài liệu về các nội dung điều tra phòng vệ thương mại làm cơ sở để dẫn đến kết luận cuối cùng của Cơ quan điều tra; các thông tin khác do Cơ quan điều tra xem xét công khai trong quá trình điều tra.

 Từ những quy định trên có thể thấy, quyền được tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đã được pháp luật ghi nhận. Có thể hiểu, doanh nghiệp với tư cách là Bên yêu cầu điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM có quyền tiếp cận bằng cách đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp hai (02) nhóm thông tin cơ bản sau: (i) Các thông tin mà Bên bị điều tra cung cấp cho Cơ quan điều tra; (ii) Thông tin mà Cơ quan điều tra tạo ra được trong quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM. Thoạt nhìn các quy định nêu trên, dường như quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đã được pháp luật quy định đầy đủ và chi tiết. Tuy nhiên, khi nghiên cứu so sánh chúng ta có thể thấy, cách quy định này mang tính quy định cho có, quy định đánh đố doanh nghiệp, không thể thực hiện được trên thực tế, đặc biệt việc tiếp cận nhóm thông tin do Cơ quan điều tra tạo ra trong quá trình điều tra, áp dụng vụ việc PVTM. Bởi lẽ:

Thứ nhất,pháp luật không quy định trình tự, thủ tục để tiếp cận các thông tin từ Cơ quan điều tra vụ việc PVTM. Luật quy định những thông tin cần được công bố công khai, doanh nghiệp được tiếp cận để sao, chép nhưng lại “quên” quy định, doanh nghiệp phải tiến hành những bước như thế nào để sao chụp, ghi chép các thông tin mình cần nắm bắt nhằm phục vụ cho quá trình yêu cầu áp dụng biện pháp PVTM để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Qua ra soát các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề công bố thông tin quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM, người nghiên cứu không thấy tồn tại một quy phạm nào quy định về trình tự, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận thông tin cần thiết, và kể cả Thông tư số 06/2018/TT-BCT quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp PVTM  được xem là văn bản quy định chi tiết về quyền tiếp cận thông liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Cách quy định này không khác gì đánh đố, gây khó cho doanh nghiệp khi muốn tiếp cận để nắm bắt các thông tin từ Cơ quan điều tra.

Thứ hai,không quy định cụ thể thời gian nào thì công bố thông tin cho doanh nghiệp biết hoặc doanh nghiệp được tiếp cận thông tin vào thời điểm nào. Mục đích của việc tiếp cận thông tin điều tra, áp dụng vụ việc PVTM nhằm giúp doanh nghiệp kịp thời có những phương án để đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đến từ doanh nghiệp nước ngoài, vì thế việc tiếp cận thông tin kịp thời sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trong việc đối phó và xây dựng phương án kinh doanh phù hợp trong từng tình huống cụ thể xẩy ra. Tuy vậy, pháp luật quy định quyền được tiếp cận các thông tin nhưng không quy định thời hạn cũng thời điểm được tiếp cận thông tin từ Cơ quan điều tra. Do đó, doanh nghiệp không biết nên tiếp cận thông tin vào thời gian nào là phù hợp, kết thúc quá trình điều tra, hay trong thời điểm điều tra hay vào bất cứ thời điểm nào mà doanh nghiệp thấy cần thiết.

Thứ ba,doanh nghiệp không biết được những thông tin nào được phép công khai và những thông tin nào do Cơ quan điều tra xem xét công khai. Theo quy định tại (Thông tư 06/2018/TT-BCT, Điều 7, Khoản 8) thì bên cạnh những thông tin buộc Cơ quan điều tra phải công khai cho doanh nghiệp biết liên quan đến kết quả điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM thì Điều luật tiếp tục cho phép Cơ quan điều tra có quyền xem xét công khai hoặc không các thông tin khác. Đây được xem là quy định mang tính dự phòng cho những quan hệ phát sinh tiếp theo, tuy vậy cách quy định này là không phù hợp, chồng chéo với văn bản luật cũng như thực tiễn thực thi. Bởi lẽ, Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 cũng như Nghị định 10/2018/NĐ-CP đã nghi nhận cụ thể những thông tin được phép công khai, tiếp cận, và những thông tin nào phải giữ bí mật hoặc hạn chế công khai, nhưng đến Thông tư 06/2018/TT-BCT hướng dẫn chi tiết thì nhà làm luật lại “đẻ” thêm một quy định (quyền) cho riêng mình, đó là quyền được xem xét những thông tin nào cần được công khai tại Khoản 8, Điều 7, cụ thể điều luật này quy định: ... và các thông tin khác do Cơ quan điều tra xem xét công khai trong quá trình điều tra. Quy định này đã làm thay đổi bản chất của quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, dẫn đến hệ quả: (i) Về phía doanh nghiệp – với tư cách là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin lại rơi vào vị thế là chủ thể phải “đi chờ” ở Cơ quan điều tra quyết định thông tin nào được, thông tin nào không được tiếp cận; (ii) Về phía Cơ quan điều tra, chuyển từ chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin thành chủ thể có quyền được lựa chọn những thông tin để công khai cho doanh nghiệp. Như vậy, với vị thế của mình thì doanh nghiệp không biết thông tin nào được công khai và thông tin nào không, dẫn đến một thực tế là Cơ quan điều tra công khai thông tin gì thì biết thông tin đó, nếu không thì cứ hiểu đó là thông tin không được công khai và doanh nghiệp cũng không có cách nào khác, vì câu giải thích cuối cùng là do luật quy định như vậy.

 Thứ tư,thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM được công khai ở đâu, cơ quan nào có nghĩa vụ công khai pháp luật cũng không quy định. Một vấn đề mà doanh nghiệp hết sức quan tâm là các thông tin mà Cơ quan điều tra có nghĩa vụ phải công khai, được công khai ở đâu, công khai như thế nào, cơ quan nào có trách nhiệm phải công khai thông tin. Qua khảo sát các quy định liên quan đến việc công khai thông tin trong vụ kiện PVTM, người nghiên cứu nhận thấy tại (Nghị định 10/2018/NĐ-CP, Điều 11 Khoản 1) đã quy định về phương tiện dùng để công khai thông tin, theo đó việc công khai thông tin được thực hiện qua phương thức điện tử hoặc phương thức khác phù hợp với hạ tầng kỹ thuật của Cơ quan điều tra. Tuy nhiên, liên quan đến địa chỉ công khai thông tin ở đâu, cơ quan nào có nghĩa vụ công khai thì pháp luật chưa quy định, dẫn đến việc doanh nghiệp muốn tiếp cận thông tin cũng không biết phải tìm đến địa chỉ nào và ở đâu.

  1. của doanh nghiệp đối với hoạt động điều tra, áp dụngbiện phápPVTM

Như đã đề cập ở trên, trong kỷ nguyên của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc thực thi các biện pháp PVTM đôi khi không xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng mà thay vào đó là sự tác động của vị thế kinh tế, mối quan hệ chính trị của các quốc gia liên quan đến vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Điều này được Phạm Duy Nghĩa (2004) trong tác phẩm của mình đã nhấn mạnh,để kiểm soát hiệu quả hành vi độc quyềncần tới nhiều thiết chế đa dạng… Cơ quan cạnh tranh Việt Nam sẽ gặp những thách thức từ tác động của độc quyền hành chính hoặc Nguyễn Qúy Trọng (2013), khi đánh giá về thực tiễn áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đã khẳng định …phải chăng hoạt động của cơ quan điều tra trong quá trình thực thi có chịu sức ép hay không? Hay trong trường hợp này, chúng ta phải chịu sức ép về chính trị nhiều hơn sức ép về kinh tế. Do đó, dẫn đến thực trạng là khi có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp PVTM đối với doanh nghiệp nước ngoài thì Cơ quan điều tra sẽ đặt lên “bàn cân” giữa lợi ích của doanh nghiệp với mệnh lệnh hành chính và mối quan hệ quốc gia. Trong bối cảnh đó, không ai dám khẳng định rằng, Cơ quan điều tra sẽ phải thực thi pháp luật vì lợi ích của doanh nghiệp, bởi lẽ lúc này quyền tự quyết không thuộc về doanh nghiệp, chính vì lẽ đó, tác giả Đoàn Trung Kiên (2010) khi phân tích thực trạng các quy định về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam, đã lo ngại rằng, quyền hạn của cơ quan điều tra là rất lớn, trong khi không có cơ quan nào giám sát hay tư vấn độc lập cho quá trình điều tra, có thể sẽ dẫn tới lạm dụng quyền lực.

Trước thực tế đó, người nghiên cứu cho rằng, với một vị thế yếu hơn, và là chủ thể không mang quyền lực nhà nước, để có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thì cần thiết phải có một cơ chế giúp doanh nghiệp giám sát độc lập, trực tiếp đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong cả quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Và một trong những công cụ để giám sát hiệu quả chính là trao cho doanh nghiệp quyền được tiếp cận các thông tin về vụ việc PVTM từ Cơ quan điều tra bằng các quy phạm. Tuy vậy, như đã phân tích trên đây, những quy định này còn rất nhiều những bất cập, thiếu sót, cần phải hoàn thiện theo hướng:

Thứ nhất, cần quy định trình tự, thủ tục để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM. Trình tự, thủ tục là con đường hướng dẫn doanh nghiệp tìm đến các thông tin trong vụ việc điều tra PVTM. Tuy vậy, pháp luật hiện hành quy định các thông tin doanh nghiệp được hoặc không được tiếp cận, nhưng lại không chỉ rõ các bước, cũng như thủ tục thế nào để tiếp cận các thông tin này. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể cho doanh nghiệp để tiếp cận thông tin, tại Thông tư số 06/2018/TT-CP cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục để tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra PVTM. Quy định cần làm rõ những vấn đề: (i) Để tiếp cận các thông tin công khai hoặc tiếp cận các thông tin theo yêu cầu thì doanh nghiệp cần phải có những giấy tờ gì; (ii) gửi hồ sơ tới địa chỉ nào; (iii) thời gian trả lời yêu cầu là bao nhiêu; (iv) khiếu nại ở đâu nếu không đồng ý. Hoặc là tiếp cận trên phương tiện điện tử thì cần làm rõ: (i) Địa chỉ nào công bố thông tin; (ii) thời gian công bố thông tin khi nào; (iii) cơ quan nào phải có nghĩa vụ giải đáp thắc mắc.

Thứ hai,cần quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM. Thời hạn công khai các thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp PVTM hết sức quan trọng và cần thiết đối với doanh nghiệp. Bởi lẽ, mục đích cuối cùng của việc tiếp cận thông tin là để doanh nghiệp kịp thời xây dựng các phương án kinh doanh phù hợp đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, doanh nghiệp luôn cần theo dõi sát các thông tin từ Cơ quan điều tra để biết được cần phải làm gì, làm như thế nào khi doanh nghiệp nước ngoài bị hoặc không bị áp dụng biện pháp PVTM. Vì thế, pháp luật không chỉ phải quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin mà phải công bố một cách kịp thời, thường xuyên thông qua các phương tiện điện tử cũng như các cổng thông tin của Cơ quan điều tra về hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM. Vì lẽ đó, người nghiên cứu đề xuất tại Thông tư 06/2018/TT-BCT cần bổ sung thêm quy định về thời hạn Cơ quan nhà nước liên quan phải công bố về vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM, và thời hạn này phải bắt đầu từ thời điểm Cơ quan điều tra nhận được đơn yêu cầu cho đến hết thời gian áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp PVTM.

Thứ ba,cần quy định thống nhất những thông tin nào doanh nghiệp không được phép tiếp cận, hoặc tiếp cận hạn chế. Để có sự thống nhất trong quy định liên quan đến thông tin được công khai và không được công khai, nhà làm luật cần bỏ quy định tại Khoản 8 Điều 7 Thông tư 06/2018/TT-BCT. Một thực trạng thường thấy ở Việt Nam, bản chất của điều luật thường bị làm “méo mó” thông qua các lần hướng dẫn thi hành. Luật ban hành hàm chứa một nội dung nhưng khi đến Nghị định hoặc Thông tư hướng dẫn thì nhà làm luật vì một mục đích nào đó về lợi ích lại thêm vào vài ba câu từ, vài ba ý, điếu đó đồng nghĩa với việc nhà làm luật đã lái bản chất của điều luật qua một hướng khác, điển hình các cụm từ như “vấn đề này do Chính phủ quy định chi tiết” hoặc “trách nhiệm do Bộ quy định”,v.v và Khoản 8 Điều 7 Thông tư 06/2018/TT-BCT là một minh chứng. Do đó, người nghiên cứu đề nghị, để đảm bảo tính thống nhất từ Luật Quản lý ngoại thương, Nghị định 10/2018/NĐ-CP đến Thông tư 06/2018/TT-CP trong việc quy định các loại thông tin nào được công khai, những thông tin nào cần bảo mất thì phải bỏ Khoản 8 Điều 7 tại Thông tư 06/2018/TT-CP.

Thứ tư,cần quy định cụ thể địa chỉ công bố thông tin, cơ quan có nghĩa vụ phải công bố thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM. Như đã phân tích trên đây, tại Khoản 1 Điều 11 Nghị định 10/2018/NĐ-CP đã có quy định về phương tiện dùng để công khai thông tin là qua phương thức điện tử hoặc phương thức khác phù hợp với hạ tầng kỹ thuật của Cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Nghị định lại chưa quy định cụ thể thông tin được công khai tại trụ sở hay trên website của Cơ quan điều tra, đồng thời cơ quan nào có nghĩa vụ phải công bố thông tin. Vì vậy, công trình đề xuất tại Điều 11 Khoản 1 Nghị định 10/2018/NĐ-CP cần quy định bổ sung thêm địa chỉ công bố thông tin, cơ quan có nghĩa vụ công bố thông tin. Đồng thời, qua nghiên cứu so sánh, người nghiên cứu cho rằng cần quy định nghĩa vụ công bố thông tin thuộc về Cơ quan điều tra; địa chỉ để công bố thông tin tại trụ sở và trên website của Cơ quan điều tra, đồng thời thông tin này phải được cập nhật trên các Bản tin PVTM của Bộ Công thương.

Kết luận: Trong một môi trường cạnh tranh với sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp nước ngoài thì pháp luật trở thành công cụ trung tâm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể, vì thế luật pháp cần phải được hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn đặt ra. Góp phần vào mục đích đó, công trình đã phân tích, chỉ rõnhững bất cập, thiếu sót, từ đó đề xuất hoàn thiện các quy định liên quan đến thời hạn công bố thông tin; địa chỉ công bố thông tin; trình tự thủ tục công bố thông tin giúp doanh nghiệp tiếp cận, giám sát hiệu quả hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM của cơ quan nhà nước.

[1]Thạc sĩ, Giảng viên trường Đại học Luật Huế.

Copyright © 2014 Hội Luật gia Việt Nam

Viện Nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN

Tầng 3, Tòa tháp Ngôi sao (Star Tower), đường Dương Đình Nghệ, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Email: vienaseanvn@gmail.com * Điện thoại: 04 62634949

Powered by NetLink Tech