Kết nối trí tuệ vì sự phát triển bền vững * Connecting Think - Tank for sustainable development

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Những dấu hiệu của ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường đang ngày càng trở nên nghiêm trọng: ô nhiễm nước ở các dòng sông, hiện tượng thuỷ triều đen ở các bờ biển, sương mù độc, sự khan hiếm các loài động thực vật hoang dã, biến đổ

 

 

 

Đặt vấn đề**

.. đã minh chứng cho những tác động tiêu cực mà loài người đã gây ra vì mục đích sinh tồn và phát triển của mình. Đối với một quốc gia đang trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam hiện nay, việc hoàn thiện và tăng cường hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và về xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, Việc phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nguy cơ, các nguồn gây ô nhiễm môi trường và vấn đề vi phạm đồng loạt để làm rõ trách nhiệm pháp lý và xã hội của doanh nghiệp đối với BVMT đang là một yêu cầu cấp thiết để các doanh nghiệp Việt Nam không bị thua thiệt khi tham gia vào nền kinh tế thế giới. Bài viết được thực hiện với mục đích là đóng góp một số các quan điểm cụ thể trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm sáng tỏ các vấn đề về trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp đối với BVMT.

Từ khóa: Doanh nghiệp, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường

  1. Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường

Trong những năm gần đây tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ngày càng gia tăng và có diễn biến rất phức tạp. Nhiều khu, cụm công nghiệp, làng nghề chưa được đầu tư xây dựng hạ tầng bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường: cả nước có 283 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó mới chỉ có 212 khu công nghiệp đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 75%; 615 cụm công nghiệp đang hoạt động nhưng chỉ có khoảng hơn 5% đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn lại, hoặc tự xử lý nước thải hoặc xả trực tiếp ra môi trường, dẫn đến nước thải không đạt yêu cầu quy chuẩn Việt Nam[1]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 160 Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân khác, có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và xử lý theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan”. Như vậy, các biện pháp cưỡng chế là không thể thiếu được khi tiến hành xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường do các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra ở Việt Nam. Do đó pháp luật Việt Nam cũng đã quy định các trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về môi trường tuỳ theo mức độ vi phạm khác nhau. Có thể liệt kê 03 loại trách nhiệm pháp lý chủ yếu trong lĩnh vực này như sau: Trách nhiệm hình sự; trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự.

- Trách nhiệm hình sự: Trách nhiệm này áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường được qui định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các tội phạm môi trường được quy định tại một chương riêng với 12 tội danh từ điều 235 đến điều 246[2]. Tùy vào mức độ nguy hiểm của hành vi gây ra, chủ thể vi phạm sẽ phải chịu các hình phạt tương ứng. Quy định phạt tù đến 15 năm là mức hình phạt cao nhất cho các tội danh này. Bên cạnh đó còn có các hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Một trong những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đó là quy định đối với pháp nhân thương mại, hình phạt chính được áp dụng chỉ là hình thức phạt tiền với mức thấp nhất là 50 triệu đồng, cao nhất là 20 tỷ đồng. Pháp nhân thương mại còn bị đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh trong một số lĩnh vực, cấm huy động vốn... Vi phạm pháp luật môi trường đến thời điểm này đã trở nên báo động, đặc biệt là ở các khu, cụm công nghiệp trên cả nước. Trước đây, Các vụ Vedan, Hào Dương bị phát hiện là những vụ việc điển hình vi phạm pháp luật môi trường cho thấy, hầu như những hành vi vi phạm này chỉ bị xử phạt hành chính mà chưa có vụ nào truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc bổ sung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý các vụ gây ô nhiễm môi trường ngày càng có tổ chức chặt chẽ với thủ đoạn tinh vi nhằm che giấu, đối phó với tư cách là các doanh nghiệp trong thời kỳ kinh tế Việt Nam hội nhập như hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm chưa hợp lý trong các quy định này như: căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây: (i) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm; (ii) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù; (iii) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù; và (iv) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (Bộ luật hình sự, 2015, sửa đổi 2017). Trong khi đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định chế tài xử lý đối với pháp nhân thương mại không có hình phạt tù. Vậy trong trường hợp một doanh nghiệp phạm tội môi trường bị áp dụng hình phạt thì dựa vào căn cứ nào để phân loại tội phạm: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng? Hơn nữa, theo quy định về việc phân loại tội phạm tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) không thấy có tội phạm nào được phân loại là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong khi hậu quả của tội phạm này gây ra cho môi trường, cho sức khỏe, tính mạng và tài sản của cộng đồng là rất lớn.

- Trách nhiệm hành chính: áp dụng đối với các doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu sau đây: Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính 2002 (sửa đổi bổ sung 4/2008); Ngày 20/6/2012, Quốc hội đã thông qua Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. So với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Luật xử lý vi phạm hành chính ra đời có rất nhiều quy định mới trong hình thức xử lý, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính cũng như mức phạt tiền…; Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Theo đó, tùy tính chất và mức độ vi phạm, các chủ thể có thể bị áp dụng các biện pháp xử phạt như cảnh cáo, phạt tiền (với mức phạt tiền tối đa là 01 tỷ đồng đối với cá nhân và 02 tỷ đồng đối với tổ chức) và các hình thức xử phạt bổ sung như bị tước quyền sử dụng Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, Giấy chứng nhận đạt quy chuẩn môi trường có thời hạn; buộc khôi phục lại tình trạng môi trường ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Thực tiễn cho thấy, trong năm 2017, các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội đã kiểm tra, thanh tra tại 2.161 cơ sở, xử lý vi phạm hành chính 588 cơ sở với tổng số tiền phạt là hơn 16,5 tỷ đồng. Trong đó, Sở Tài nguyên và Môi trường đã thanh tra, kiểm tra 468 cơ sở, xử lý vi phạm hành chính đối với 21 cơ sở vi phạm với tổng số tiền phạt là trên 2,5 tỷ đồng. Công an thành phố Hà Nội thanh tra, kiểm tra 176 vụ, lập hồ sơ đề nghị các cấp ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 176 vụ, với tổng số tiền phạt khoảng 6,8 tỷ đồng; UBND các quận, huyện, thị xã xử lý vi phạm hành chính 391 cơ sở với tổng số tiền phạt hơn 7,1 tỷ đồng (Phương Mai, 2018). Nguyên nhân dẫn đến những con số báo động trên đây là do số cơ sở đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải vẫn còn thấp, việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường tại một số cơ sở được kiểm tra còn chưa được thường xuyên và nghiêm túc. Nhiều doanh nghiệp còn xả nước thải vượt quá quy chuẩn môi trường cho phép, thực hiện không đúng các nội dung trong hồ sơ pháp lý về môi trường…

- Trách nhiệm dân sự: Bên cạnh trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính, pháp luật Việt Nam cũng quy định trách nhiệm dân sự như trách nhiệm bồi thường thiệt hại áp dụng đối với các chủ thể là doanh nghiệp gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; các chi phí xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường; chi phí giảm thiểu hoặc triệt tiêu nguồn gây thiệt hại cho môi trường... Việc giải quyết bồi thường thiệt hại do các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gây ra được thực hiện theo hình thức tự thoả thuận của các bên hay khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền. Có thể nói, việc gây ô nhiễm của các doanh nghiệp là nguyên nhân chính dẫn tới hàng loạt những vụ khiếu kiện, xung đột môi trường trong thời gian qua. Điển hình là vụ vi phạm của Công ty Vedan tại lưu vực sông Thị Vải gây ô nhiễm, thiệt hại lớn cho các hộ dân tại 3 tỉnh, thành: Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh (9/2008). Thực tiễn xác định thiệt hại và giải quyết việc bồi thường thiệt hại vụ Vedan vừa qua cho thấy nhiều vấn đề phát sinh. Đơn cử như các cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường chưa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình trong quá trình tham gia hướng dẫn, hỗ trợ, chứng kiến các bên thỏa thuận xác định thiệt hại, giải quyết tranh chấp (Phạm Hữu Nghị, Bùi Đức Hiển, 2011). Gần đây nhất là sự cố môi trường biển miền Trung do nước thải công nghiệp của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (công ty Formosa) gây ra làm thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó chịu ảnh hưởng nặng nhất là ngành thủy sản, tiếp đến là hoạt động kinh doanh, dịch vụ, du lịch và đời sống sinh hoạt của ngư dân. Công ty Formosa đã nhận trách nhiệm và bồi thường 500 triệu USD. Từ những vụ việc nêu trên cho thấy thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế. Tình trạng vi phạm và coi thường pháp luật môi trường, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, khu kinh tế.. đã trở nên báo động. Tình trạng người dân còn lúng túng, khó khăn trong việc thực hiện các thủ thục khiếu kiện ra tòa mà một trong những nguyên nhân chính là thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình và thẩm quyền tiếp nhận đơn khiếu kiện; Thực tế cho thấy, quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm theo Điều 607 Bộ luật dân sự là quá ngắn không đảm bảo được quyền lợi của bên bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra với tính chất phức tạp, lâu dài và lan tỏa của nó.

Có thể nhận thấy số lượng các doanh nghiệp vi phạm pháp luật môi trường rất cao. Với thực trạng các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nêu trên và thực tiễn áp dụng, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Thứ nhất, việc xử lý các doanh nghiệp vi phạm pháp luật môi trường ở nước ta còn nương nhẹ, không nghiêm dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp vẫn liên tục tái vi phạm pháp luật môi trường trong suốt thời gian dài.

Thứ hai, mức xử phạt vi phạm hành chính đối với các doanh nghiệp còn thấp và chưa đủ sức răn đe. Đối với các hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền cao nhất đặt ra trong lĩnh vực này là 01 tỷ đồng đối với cá nhân và 02 tỷ đồng đối với tổ chức (Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2017). Văn bản này được ban hành rất mới và phù hợp với Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. So với quy định trước đây, ngay cả mức xử phạt thậm chí tối đa lên đến 2 tỷ đồng thì vẫn không thể so sánh với những hậu quả nghiêm trọng mà các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường do các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gây ra. Do đó, mức tiền phạt này chưa đủ sức răn đe đối với các chủ thể là doanh nghiệp vi phạm pháp luật. Tôi cho rằng các qui định chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm trên lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung vẫn thiếu kiên quyết, chưa chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả xử lý vi phạm không cao, chưa đủ nghiêm để hạn chế hành vi vi phạm môi trường.

Thứ ba, trong quá trình xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường còn thấy sự thiếu trách nhiệm, dung túng, bao che của cán bộ quản lý môi trường, trong đó một bộ phận không nhỏ cán bộ thanh tra, kiểm tra đã buông lỏng quản lý, có dấu hiệu tư lợi hay làm ngơ trước các hành vi vi phạm đó. Hơn nữa, việc không giải quyết thỏa đáng kiếu nại, tố cáo của người dân về những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp, cũng đặt ra những câu hỏi nghi ngờ về tính công minh của các cơ quan có thẩm quyền; Chưa có chế tài quy định trách nhiệm của các cơ quan có liên quan không tuân thủ theo quy định của pháp luật môi trường (trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền).

Thứ tư, trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường còn rất hạn chế; tình trạng chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt, coi nhẹ bảo vệ môi trường còn khá phổ biến, nhất là trong quá trình thẩm định, xét duyệt, thực hiện các dự án đầu tư.

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh rất cần phải đảm bảo nguyên tắc “phát triển bền vững không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá”, để từ đó thực hiện tốt trách nhiệm pháp lý của mình đối với môi trường phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập như hiện nay.

  1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp[3] (CSR) đã trở thành chủ đề nghiên cứu được quan tâm bàn luận nhiều trên thế giới trong vài thập kỷ qua. Việc doanh nghiệp bỏ qua hoặc lơ là trách nhiệm xã hội có thể gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, dài lâu cho nền kinh tế, xã hội, môi trường cũng như sự phát triển bền vững của bản thân doanh nghiệp. Ở Việt Nam, các vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được đặt ra và ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt là đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu những cam kết đầy đủ về thực hiện trách nhiệm xã hội. Đây là điểm khác biệt giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp ở các nước phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với những thách thức lớn về môi trường, biến đổi khí hậu và ngày càng nhận thức được rằng trách nhiệm xã hội có thể có giá trị kinh tế trực tiếp. Mặc dù mục tiêu chính của họ là tạo ra lợi nhuận, không phải là mục tiêu từ thiện nhưng việc đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu xã hội và bảo vệ môi trường sẽ tạo ra nhiều lợi ích kinh tế. Hiện nay khi bàn về CSR vẫn còn tồn tại một số tranh cãi, do vậy chưa có sự rõ ràng và thống nhất về khái niệm này. Hơn nữa, mỗi học giả trên thế giới lại có những cái nhìn khác nhau về CSR và lý giải về vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau như đạo đức doanh nghiệp, doanh nghiệp bền vững, đầu tư trách nhiệm xã hội và trách nhiệm doanh nghiệp.

Các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học, và các luật sư đã sử dụng rất nhiều định nghĩa khác nhau cho CSR. Chúng ta không thể tìm ra một định nghĩa chung cho CSR nếu chúng ta không vượt ra khỏi định nghĩa học thuật của thuật ngữ này. Sarkar và Searcy đã tiến hành một nghiên cứu định lượng về cách sử dụng thuật ngữ này trong giai đoạn 1953-2014. Họ đã phân tích 110 định nghĩa và kết luận rằng có 6 từ được dùng nhiều nhất để miêu tả CSR. Đó là: kinh tế, có đạo đức, các bên liên quan, tính bền vững, và tính tự nguyện. (Louis Rolfres, 2018)

Trên thực tế, CSR đã xuất hiện tại Hoa Kỳ ngay từ những năm 1950 khi nó được đề cập xuất phát từ những vấn đề đạo đức, tôn giáo hay từ các hoạt động từ thiện. Khái niệm này đã dần dần thay đổi để phù hợp với các hoạt động kinh tế cũng như đáp ứng các yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, quá trình hình thành và phát triển nên khái niệm CSR đã phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.

Ủy hội châu Âu (European Commission, 2001) đưa ra khái niệm khá phổ biến về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp theo đó các doanh nghiệp tích hợp các mối quan tâm của xã hội và môi trường vào hoạt động kinh doanh của mình - có sự tương tác với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện. Năm 2011, chiến lược đổi mới CSR của Uỷ hội Châu âu 2011- 2014 đã đưa ra một khung mới, mở rộng phạm vi và các khía cạnh của CSR, ít nhất bao gồm các vấn đề: nhân quyền, lao động và việc làm (đào tạo, đa dạng hóa cơ hội, bình đẳng giới và sức khỏe người lao động, phúc lợi doanh nghiệp), vấn đề môi trường (chẳng hạn như đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, sử dụng tài nguyên có hiệu quả, phòng ngừa ô nhiễm), chống hối lộ và tham nhũng. Sự tham gia của cộng đồng và hỗ trợ phát triển xã hội bảo đảm khả năng hội nhập của người tàn tật, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng là một phần không thể thiếu của CSR. Ủy ban châu Âu coi việc thúc đẩy CSR về bảo vệ môi trường thông qua các chuỗi cung ứng, trách nhiệm công bố thông tin phi tài chính, đổi mới công tác quản trị về thuế (nâng cao tính minh bạch, trao đổi thông tin và cạnh tranh công bằng thuế) là những cách thức quan trọng để thực hiện chiến lược CSR (Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận, 2017).

Trên thực tế, CSR bắt đầu được hình thành khi các doanh nghiệp có trách nhiệm cam kết hành động vì lợi ích của nhân viên, khách hàng, các nhà cung cấp, cộng đồng địa phương, môi trường…Nói cách khác, đó là một cam kết hành xử có trách nhiệm, đặc biệt là trong ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường. Ba trụ cột của CSR trong một số tài liệu được liệt kê gồm con người, hành tinhlợi nhuận. Trong tiếng Anh ba trụ cột này được định danh là “3P” gồm People, Planet and Profit tương ứng xã hội, thiên nhiên và kinh tế. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan đến ba trụ cột nêu trên. Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn và phát triển theo định hướng riêng của mình đồng thời phải tôn trọng sự mong đợi và yêu cầu của các bên có liên quan. Dưới góc độ pháp luật, CSR có thể được nhìn nhận như một dạng đặc biệt của trách nhiệm pháp lý tích cực. Trách nhiệm đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng được những mong đợi, kì vọng của xã hội và thực hiện được cam kết của mình đem lại lợi ích tốt nhất cho tất cả các bên có lợi ích liên quan, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo đáp ứng được sự tuân thủ các quy định pháp luật cơ bản. Từ đó, khái niệm CSR được hình thành có thể thấy là sự kết hợp giữa việc doanh nghiệp phải đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và vượt ra hơn nữa là những giá trị đạo đức và kỳ vọng của xã hội, cộng đồng. Và tất nhiên, điều đó đồng nghĩa rằng, đó là một loại trách nhiệm cần được chào đón, cần được quan tâm, phát triển vì nó góp phần đáng kể trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện xã hội. Tuy nhiên, CSR do bản chất là những cam kết tự nguyện của doanh nghiệp nên tuyệt nhiên không thể là pháp luật, do đó, không thể đánh đồng CSR với trách nhiệm pháp lý được. Vì thế, có thể thấy CSR chính là sự kết hợp giữa việc doanh nghiệp một mặt phải tuân thủ những trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định và đồng thời là tự nguyện cam kết của doanh nghiệp để thực hiện những giá trị cao hơn trách nhiệm pháp lý tối thiểu. (Nguyễn Như Phát, 2018)

Ở Việt Nam, có thể nhận thấy manh nha một khung pháp lý về CSR nhưng chưa thật sự rõ ràng và cụ thể. Nếu nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường thì chúng ta có thể tìm thấy khá nhiều quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện nhằm bảo vệ môi trường. Việc thực hiện CSR sẽ giúp các doanh nghiệp có môi trường làm việc an toàn, mang đến lợi ích về sức khỏe cho cán bộ công nhân viên được đảm bảo, từ đó cán bộ yên tâm công tác, đảm bảo năng suất lao động. Bên cạnh đó, việc tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật môi trường sẽ giúp doanh nghiệp không gặp rủi ro về pháp lý, thanh kiểm tra và chế tài xử phạt. Theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính từ mức thấp nhất là vài chục triệu đến mức cao nhất là 1- 2 tỷ đồng nếu vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Điều quan trọng là khi làm tốt công tác bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp còn đạt được hiệu quả về kinh tế, cụ thể như trường hợp Nhà máy sắn Hướng Hóa Quảng Trị đã thu lợi khoảng hơn 15 tỷ/năm từ việc hồi lưu nước thải và xử lý biogas; Công ty Cổ phần phân lân nung chảy Văn Điển thu lợi từ tái sử dụng chất thải rắn là 30 - 40 tỷ đồng/năm. (Châu Loan, 2017) Yêu cầu cốt yếu là doanh nghiệp phải nắm được các quy định “cứng” của pháp luật để làm cơ sở thực hành CSR. Nếu chỉ dừng lại ở mức độ này, doanh nghiệp chưa thực sự thực hiện CSR vì CSR còn bao gồm phần mở rộng ở các cam kết tự nguyện. Các ràng buộc “mềm” này thể hiện ở các quy tắc ứng xử, các tiêu chuẩn mà doanh nghiệp cam kết thực hiện vượt trên các chuẩn mực pháp lý. Các quy tắc “luật cứng” và các ràng buộc “luật mềm” đã tạo ra hai cơ sở pháp lý là nội dung chính của CSR: (i) Các quy định pháp luật bắt buộc phải tuân thủ liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; (ii) Các cam kết đơn phương của doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội thể hiện trong bộ quy tắc ứng xử và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Như thế, trách nhiệm xã hội thì không chỉ là trách nhiệm pháp lý, nó vượt lên trên và ra ngoài phạm vi bao quát của các quy định pháp luật. Trách nhiệm xã hội không hoàn toàn được quy định dưới góc độ pháp luật, mà có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng về cơ bản, có thể được nhìn nhận dưới góc độ kết hợp của trách nhiệm pháp lý (tích cực) và các dạng trách nhiệm đạo đức. (Nguyễn Như Phát, 2018)

Pháp luật Việt Nam quy định điều kiện tiên quyết để được thành lập doanh nghiệp là phải thực hiện đánh giá tác động môi trường ĐTM (Luật bảo vệ môi trường 2014). Điều này phải được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư. Doanh nghiệp có nghĩa vụ tham vấn các cơ quan, tổ chức và cộng đồng nơi sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các hoạt động dự án. Pháp luật quy định các doanh nghiệp phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường trong đó phải đưa ra các dữ liệu liên quan đến phương pháp đánh giá môi trường, các biện pháp quản lý chất thải hay dự trù ngân sách cho hoạt động bảo vệ môi trường của doanh nghiệp… Thực tiễn cho thấy, những doanh nghiệp thực hiện tốt CSR sẽ không thua thiệt, mà thường đạt được những lợi ích đáng kể, bao gồm giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới. Trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu, CSR đã trở thành một trong những yêu cầu đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nếu doanh nghiệp nào đó không tuân thủ CSR sẽ không thể tiếp cận được với thị trường thế giới (Trần Anh Phương, 2009).

Sự thiếu hoàn thiện trong khung pháp lý vềCSR ở Việt Nam đặc biệt là thiếu những quy định, chế tài cụ thể trong lĩnh vực này. Sự thiếu hoàn thiện trong quy định về CSR là một trong những minh chứng rõ nét nhất cho thực trạng yếu kém của khung pháp lý về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.Các vấn đề và rào cản trong việc thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đánh giá bởi những người được khảo sát và họ đã xác định có ba vấn đề chủ yếu: hỗ trợ tài chính không đầy đủ, thiếu kiến thức về trách nhiệm xã hội và không có tầm nhìn; nhiệm vụ trách nhiệm xã hội. Gần 50% những người được khảo sát đã xác định hạn chế ngân sách là vấn đề hàng đầu. Điều đó tạo nên một cảm giác là sự thật hầu hết các công ty quyên góp từ thiện đều là làm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Một kết quả phê bình đáng chú ý là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải chịu tổn thất vì thiếu nhân viên tham gia (chỉ 1,7% các công ty đánh giá điều này như một vấn đề), nghĩa là nếu các rào cản khác có thể vượt qua, việc tham gia trách nhiệm xã hội sẽ không còn khó để đạt được trong các công ty Việt Nam. (Phòng Thương mại Việt Nam và Công nghiệp, 2010) Như vậy, Sự thiếu hoàn thiện này được thể hiện chủ yếu trên hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất, những quy định về CSR ở Việt Nam là rất hạn chế về cả số lượng các quy định và cơ chế thực thi (chúng tôi cho rằng đây là hạn chế lớn nhất); Khía cạnh thứ hai, sự không tuân thủ các quy định của pháp luật về CSR từ phía các doanh nghiệp. Nếu có sự tuân thủ thì chủ yếu là mang tính hình thức. Như vậy, một hệ quả tất yếu là CSR ở Việt Nam vẫn đang ở mức thấp so với trình độ chung của thế giới, nơi mà những quy định về CSR nói riêng và khung pháp lý về bảo vệ môi trường nói chung đã hoàn thiện và được thừa nhận.

Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật đang trong quá trình hoàn thiện, những quy định về bảo vệ môi trường nói chung, về CSR nói riêng cũng không nằm ngoài thực tế đó.Trong thời gian qua, pháp luật đã dành nhiều quan tâm hơn cho các doanh nghiệp, một trong những chủ thể quan trọng của nền kinh tế, thể hiện ở những quy định nhằm hoàn thiện khung pháp lý về CSR. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới và sự tiến bộ của hệ thống pháp luật quốc tế, đồng thời với sự chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam thì sự quan tâm đó dường như vẫn chưa đủ. So với những quy định pháp luật ở những quốc gia có trình độ xây dựng chính sách về CSR tốt thì những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này còn quá nhiều hạn chế. Sự hạn chế này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp, cũng như nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CSR ở Việt Nam phải tiến hành theo các định hướng sau đây:

Một là, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CSR ở Việt Nam phải trên cơ sở vận dụng linh hoạt các lý thuyết hiện đại về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững; về phòng ngừa ô nhiễm môi trường; Những quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về ý nghĩa của CSR đối với việc phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam; Nâng cao nhận thức về CSR của người dân và của chính các doanh nghiệp.

Hai là, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CSR ở Việt Nam phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật bảo vệ môi trường. Những nguyên tắc đó đều là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường nói chung. Nó có thể được coi như cơ sở, nền tảng cho những quy định cụ thể của pháp luật về CSRáp dụng đối với các Doanh nghiệp Việt Nam.

         Ba là, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CSR ở Việt Nam phải phù hợp với thực trạng bảo vệ môi trường và các vấn đề liên quan khác, đồng thời phải trên cơ sở sửa đổi, bổ sung, phát triển những quy định hiện hành.

Bốn là, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CSR ở Việt Nam phải xác định đầy đủ và chính xác các yêu cầu của nó đối với vấn đề bảo vệ môi trường, đó là: (i). Khi xây dựng các nội dung trong pháp luật về CSR ở Việt Nam cần quan tâm đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành; (ii) Pháp luật về CSR ở Việt Nam phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng các yêu cầu về phát triển bền vững; (iii) Pháp luật về CSRở Việt Nam phải chú ý đến yếu tố phòng ngừa; (iv) Pháp luật về CSRở Việt Nam phải chú ý thực hiện nguyên tắc ai gây ô nhiễm, người đó phải trả tiền; (v). Pháp luật về CSR ở Việt Nam phải rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu; (vi). Pháp luật về CSR ở Việt Nam phải mang tính ổn định và phù hợp với xu thế phát triển bền vững.

Năm là, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CSR ở Việt Nam phải xác định đầy đủ và chính xác các yêu cầu của nó đối với các vấn đề về con người và lợi nhuận của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp thành công nhất chính là các doanh nghiệp nhận thấy được vai trò quan trọng của CSR và áp dụng nó vào thực tiễn sản xuất cũng nhưviệc tạo ra các điều kiện môi trường làm việc thuận lợi sẽ thúc đẩy con người làm việc tốt hơn.

Như vậy, một khuôn khổ pháp lý về CSR hoàn chỉnh, phù hợp với thực trạng các doanh nghiệp, phù hợp với nền kinh tế Việt Nam là một yêu cầu bắt buộc và rất thiết thực. Chỉ khi đó, thì các chuẩn mực về CSRở Việt Nam mới tiến gần đến chuẩn mực về CSR của thế giới. Đến lúc đó, các doanh nghiệp Việt Nam mới đủ khả năng và điều kiện để hội nhập với nền kinh tế thế giới, đó là một tương lai không xa mà nền kinh tế Việt Nam đang hướng đến.

Kết luận

Doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thách thức do các hoạt động đầu tư phát triển trong nước gia tăng mạnh, tác động của biến đổi khí hậu, hội nhập kinh tế ngày càng đa dạng, phức tạp và khó lường; xu thế đặt ra các tiêu chí về môi trường trong thương mại quốc tế ngày càng cao… Trong bối cảnh đó, chúng ta cần phải có những cải cách ngay trong các quy định về trách nhiệm pháp lý và xã hội của doanh nghiệp; cần đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011-2015), Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia, Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường
  2. Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
  3. Theo Cadn.com.vn (2011), Công tác bảo vệ môi trường ngày càng gặp nhiều thách thức, http://www.snnptnt.danang.gov.vn, truy cập ngày 2/3/32018
  4. Phạm Hữu Nghị, Bùi Đức Hiển (2011), Các quy định pháp luật về thiệt hại, xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra và định hướng xây dựng, hoàn thiện, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 1/2011, tr. 40 – 47
  5. Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận, (2017), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tổng kết 1 số chủ đề và đề xuất hướng nghiên cứu, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 50d: 19-33.
  6. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
  7. Trần Anh Phương, (2009), Tráchnhiệm xã hội của doanh nghiệp và thực tiễn vận dụng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học (Số 8 (219), tháng 8 – 2009)
  8. Nguyễn Như Phát, Trách nhiệm xã hội của Doanh Nghiệp Việt Nam dưới góc độ pháp lý, Hội thảo Khoa học quốc tế: Những vấn đề nổi bật của Luật kinh doanh hiện đại ở Việt Nam và Đức, được tổ chức tại Khoa Luật ĐHQGHN từ ngày 15-16 tháng 3 năm 2018
  9.  Phòng Thương mại Việt Nam và Công nghiệp (VCCI), (2010), Bản khảo sát về thực trạng CSR trong các Doanh nghiệp ở Việt Nam, https://toituhockinhte.files.wordpress.com/2017/10/state-of-csr.pdf truy cập ngày 15/7/2018
  10.  Châu Loan, (2017), Thực hiện trách nhiệm xã hội và tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam,  Tạp chí Môi trường số 5/2017
  11.  Louis Rolfes, Đại học tổng hợp Humboldt, Berlin (3/2018), Thực thi khái niệm trách nhiệm xã hội của công ty ở Đức, Hội thảo Khoa học quốc tế: Những vấn đề nổi bật của Luật kinh doanh hiện đại ở Việt Nam và Đức, được tổ chức tại Khoa Luật ĐHQGHN từ ngày 15-16 tháng 3 năm 2018

4.           Phương Mai, (2018), Hà Nội: “Điểm danh” 187 điểm đen ô nhiễm, phạt 588 cơ sở vi phạm môi trường, https://www.thiennhien.net/2018/03/14/ha-noi, truy cập ngày 15/5/2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Giảng viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

**. Bài viết này được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài ““Những vấn đề pháp lý trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam” thuộc chương trình NCKH năm 2018 của Bộ Tư pháp

[1]Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011-2015), Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia, Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường

 

[2]Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235); Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 236); Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237); Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238);Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239); Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người (Điều 240); Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 241); Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242); Tội hủy hoại rừng (Điều 243); Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244); Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 245); Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246)

[3] Thuật ngữ tiếng anh: Corporate social responsibility (CSR)

Copyright © 2014 Hội Luật gia Việt Nam

Viện Nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN

Tầng 3, Tòa tháp Ngôi sao (Star Tower), đường Dương Đình Nghệ, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Email: vienaseanvn@gmail.com * Điện thoại: 04 62634949

Powered by NetLink Tech