Kết nối trí tuệ vì sự phát triển bền vững * Connecting Think - Tank for sustainable development

Tranh in độc bản (Phần 1: số 10 (16) tháng 10/2013)

BBT: So với một số nước trong khu vực Châu Á, sự xuất hiện tranh in độc bản một cách chính thức ở Việt Nam là rất muộn, vào 1994, qua trại sáng tác tranh in tổ chức tại Khoa Đồ họa, Trường ĐH Mỹ thuật Việt Nam. Đến năm 2004 trại sáng tác tranh in độc bản

BBT. So với một số nước trong khu vực Châu Á, sự xuất hiện tranh in độc bản một cách chính thức ở Việt Nam là rất muộn, vào 1994, qua trại sáng tác tranh in tổ chức tại Khoa Đồ họa, Trường ĐH Mỹ thuật Việt Nam. Đến năm 2004 trại sáng tác tranh in độc bản đầu tiên đã được thực hiện dưới sự  tổ chức của Hội Mỹ thuật Việt Nam tại Trung tâm Mỹ thuật Đương đại Hà Nội. Từ đó câu chuyện về tranh in độc bản bắt đầu gây tò mò và mong muốn tiếp cận của nhiều họa sỹ ở các địa phương khác nhau. Tranh in độc bản đang còn nhiều điều cần tìm hiểu và còn có không ít ý kiến, nhận định khác nhau về tương lai của nó ở Việt Nam. Loạt bài viết về thể loại tranh in này của Nguyễn Nghĩa Phương, họa sỹ đồ họa, tiến sỹ nghệ thuật chuyên nghiên cứu về tranh in, sẽ từng bước giới thiệu những vấn đề về  lý thuyết và thực hành với mong muốn chia sẻ thông tin, kỹ thuật thể hiện để tranh in độc bản có thể lan tỏa hơn nữa trong cộng đồng họa sỹ và người yêu mỹ thuật.

PHẦN 1- KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ THỂ HIỆN

Khái niệm tranh in độc bản

In độc bản là phương pháp in đồ họa chỉ cho ra một tranh in duy nhất. Có ý kiến cho rằng, in độc bản là loại tranh lai ghép hay pha tạp đầy tranh cãi. Nó không phải là tranh in, cũng không phải là hội họa, mà là một sự kết hợp của cả haii. Điều này chưa thật chính xác bởi tranh in độc bản mang ý nghĩa là tranh in ngay trong tên gọi của nó ở bất kỳ ngôn ngữ nào. Song, nói đó là sự kết hợp của hội họa và đồ họa in ấn thì không hoàn toàn sai. Trong các cách thể hiện tranh in độc bản có kỹ thuật bôi, vẽ màu lên bề mặt khuôn in đúng theo nguyên tắc hội họa và tranh in ra từ đó có hiệu quả thẩm mỹ của hội họa. Tuy nhiên, khi đã in ra giấy thì hình ảnh in kiểu đó lại thuộc phạm vi đồ họa in ấn.

 

koichi yamamoto-hoa si tranh in doc ban.

Koichi Yamamoto - Họa sỹ tranh in độc bản nổi tiếng đang sáng tác tại xưởng

 

 Để hiểu rõ hơn về tên gọi và thể loại của tranh in độc bản, chúng ta sẽ tìm hiểu một số diễn giải như sau. Theo tập Thuật ngữ tranh in do Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia Canada xuất bản năm 1991, “tranh in độc bản là hình ảnh in độc nhất không thể in lại được lần thứ hai. Kỹ thuật phổ biết nhất để thể hiện tranh in độc bản là bôi, vẽ hình bằng màu ướt hay mực lên tấm kính hay kim loại rồi in ra giấy trước khi chúng bị khô”i. Các tác giả cuốn The Printmaking Bible dẫn từ một số từ điển như sau: “Từ điển Di sản Hoa kỳ (2004) giải thích tranh in độc bản là bản in duy nhất (unique) được thực hiện bởi việc ấn, nén mạnh mặt giấy lên bề mặt đã được phủ màu hay mực in. Từ điển Thuật ngữ Tranh in (2002) định nghĩa tranh in độc bản là bản in độc nhất (single) từ một bề mặt in mà bề mặt đó không thể sử dụng lại được”ii.  Những định nghĩa vừa nêu đều khẳng định tranh in độc bản thuộc lĩnh vực nghệ thuật in ấn và nhấn mạnh tính “độc bản” như thuộc tính kỹ thuật của thể loại tranh này để phân biệt nó với các thể loại tranh in còn lại mang tính nhân bản (in được nhiều bản) hay đa bản (có nhiều bản). Qua những diễn giải trên chúng ta hiểu rằng in độc bản là phương pháp sáng tạo tranh in chỉ cho ra một bản in độc nhất bằng cách vẽ, vạch, lau chùi… màu hay mực in trên mặt phẳng không thấm nước như kính, mica, kim loại rồi in ra giấy. Tuy nhiên, do ngày nay đã có nhiều ứng dụng kỹ thuật, vật liệu tạo bản và in ấn khác nhau trong sáng tác tranh in độc bản, nên chúng ta có thể diễn giải một cách bao quát hơn: phương pháp in độc bản bao hàm các kỹ thuật xử lý hình ảnh bằng các chất liệu màu ướt, mực in trên những bề mặt phẳng không thấm nước và chỉ có thể in ra một tranh in duy nhất trên giấy hay vải, nilon. Tác phẩm tranh in được thực hiện bằng phương pháp này gọi là “tranh in độc bản”. Như vậy, tranh in độc bản là loại tranh chỉ có một bản duy nhất được in từ một bề mặt không thấm nước như kính, kim loại, nhựa... đã được bôi, vẽ bằng màu ướt hay mực in.

 

le thanh thu. tren dong que. 2004. 40x40cm. ky thuat monotype.

Lê Thánh Thư, Trên cánh đồng 1, 2004, 40 x 40cm, kỹ thuật monotype

 

Quá trình xác lập thuật ngữ “in độc bản” và phân loại hai kỹ thuật monoprint và monotype.

Lịch sử cho thấy những gì mà ngày nay chúng ta gọi là in độc bản (như một kỹ thuật tạo hình) hay tranh in độc bản (như một phương tiện nghệ thuật) đã xuất hiện và tồn tại từ thời của danh họa Hà Lan Rembrandt (1606 – 1669). Những cách gọi khác nhau về đối tượng mà ngày nay gọi là in độc bản đã nối tiếp nhau xuất hiện sau các tên tuổi như: Adam Bartsch (với thuật ngữ “giả tranh khắc kẽm sắc độ” – imitated aquatint, khoảng 1827),  Edgar Degas và Paul Gauguin gọi là “hình vẽ in” (printed drawing), còn các họa sỹ Ấn tượng gọi là “hội họa in” (painterly print) vào khoảng thập niên 1880 – 1890 xuất hiện tên gọi “tranh đơn sắc” (monotone, monochrome), và cũng vào khoảng những năm 1880 các họa sỹ trong nhóm của Frank Duveneck hoạt động ở Florence và Venice gọi là “Bachertype” (tranh in bacher) bởi vì những tranh đó được in bởi Otto Bacher trên máy in rập của ông. Họa sỹ minh họa người Mỹ William Chandlee gọi những tranh in từ mặt kính của ông với cái tên “vitreograph” – có nghĩa là tranh in kính, kiểu như tranh in đá là tên gọi tranh in từ bản đá vậy.

Vào khoảng năm 1960, Henry Rasmusen – người Mỹ, tác giả cuốn sách quan trọng đầu tiên về tranh in độc bản, viết rằng khi đó có một số họa sỹ đề xuất sử dụng thuật ngữ monoprint để phân biệt với phương pháp in thương mại có tên gọi là in monotype. Sau đó vào năm 1975 David Kiehl, một giám tuyển người Mỹ về nghệ thuật tranh in cho rằng có sự phân biệt giữa monotype và monoprint. Theo ông Kiehl, monoprint là hình ảnh in độc nhất từ một nền in đã được chế bản bằng cách khắc hoặc ăn mòn. Tiếp đó, Jane Farmer – giám tuyển độc lập cho triển lãm tranh in độc bản vào năm 1978 cũng đã xác lập sự khác biệt giữa hai kỹ thuật trên trong bài viết cho vựng tập tác phẩm triển lãm. Bà phân biệt monoprint là bản in duy nhất mà ở đó có chứa cả hình ảnh có thể được in nhiều lần từ nền in định sẵn và cả phần hình ảnh từ nền in không định sẵn. Còn bà cho rằng monotype là bản in duy nhất từ nền in mà ở đó không có hình ảnh được định sẵn hay có khả năng in được nhiều lần.

 

ruth weisberg.canh cua. 2012. 106x73cm.ky thua monotype.

Ruth Weisberg, Cánh cửa, 2012, 106 x 73cm, kỹ thuật monotype

 

 

Chính cách diễn giải của hai nhân vật trên sau này đã trở thành tiền đề cho những tranh luận về bản chất của phương pháp in độc bản. Thực chất hai từ monotype và monoprint được dùng để phân loại sâu hơn hai kỹ thuật thể hiện bản in tác phẩm tranh in độc bản. Giữa hai dạng kỹ thuật ấy có sự khác biệt nhất định. Song, việc giải thích sự khác biệt ấy lại cũng chưa hẳn giống nhau. Có ý kiến cho rằng, monotype là tranh in độc bản được thể hiện bằng quá trình kỹ thuật bao gồm nhiều lần in (nhắc đi nhắc lại) trên một khuôn khổ giấy để tạo hiệu quả cuối cùng cho tác phẩm, còn monoprint là tranh in độc bản được thể hiện chỉ với một lần ini. Dưới một quan điểm khác, monotype là kỹ thuật in tranh độc bản từ bề mặt khuôn in nguyên vẹn, không có nét khắc đã được chế bản sẵn. Nghĩa là tranh in độc bản được in từ một bề mặt hoàn toàn sạch sẽ được bôi, vẽ màu, mực in và không thể có bất kỳ chi tiết nào có thể in lại được lần sau thì trong tiếng Anh là monotype. Trong khi đó những tranh in độc bản được in với một hoặc nhiều hơn hình ảnh có sẵn (nét khắc, vật thể) mà chúng có thể lặp lại, in được ở tranh khác thì gọi là monoprintv. Cách giải thích thứ hai tương đồng với sự phân biệt của David Kiehl và Jane Farmer. Cách này được chấp nhận phổ biến hơn và giúp dễ nhận biết, phân loại kỹ thuật tranh in độc bản hơn. Thực tế thực hành cho thấy, với tranh in độc bản, việc in một lần duy nhất hay in nhiều lần để cho ra một tác phẩm hoàn chỉnh về thẩm mỹ thị giác và ý nghĩa nội dung không đóng bất kỳ vai trò nào. Chỉ có bề mặt in được làm như thế nào mới có giá trị đối với hiệu quả nghệ thuật cuối cùng và thể hiện được rõ nhất kỹ thuật tạo bản. Chính vì vậy nó được coi như thuật ngữ chuẩn mực để chỉ hai kỹ thuật của phương pháp in độc bản.

 Ở Việt Nam, vào những năm 1950 cũng đã xuất hiện cách in tranh thuộc về kỹ thuật monoprint. Đó là kỹ thuật in tranh từ bản khắc gỗ của họa sỹ Tú Duyên mà ông gọi là “thủ ấn họa”. Thuật ngữ in độc bản xuất hiện ở nước ta cùng với sự du nhập kỹ thuật này với danh nghĩa là phương tiện biểu hiện nghệ thuật, là một trong năm phương pháp căn bản của sáng tác tranh in vào năm 1994. Cho đến nay, thuật ngữ in độc bản và tranh in độc bản đã được chấp nhận và phổ biến rộng trên cả nước, mặc dù vẫn có ai đó gọi là tranh in kính hay tranh in mica, xuất phát từ nền in là các chất liệu này. Song, tranh in độc bản vẫn là thuật ngữ mang tính khoa học và thực tiễn trong việc biểu đạt bản chất phương pháp, kỹ thuật sáng tác tác phẩm hơn cả. Tên gọi này còn để phân biệt rõ thể loại này với các loại tranh in đa bản. Vì vậy, nó đã trở thành tên gọi chính thức cho một hình thức nghệ thuật tranh in ở Việt Nam – tranh in độc bản. 

Tương tự như nghĩa của thuật ngữ “in độc bản” ở tiếng Việt, trong hầu hết các ngôn ngữ khác cũng chỉ có một từ hàm nghĩa “in ra một bản duy nhất” được sử dụng để chỉ loại tranh in này mà thôi, ví dụ monotype (tiếp Pháp), monotyp (tiếng Đức) hay монотипия (tiếng Nga), trong đó mono/моно  – mang nghĩa đơn chiếc, duy nhất và type/typ/munuя đều mang nghĩa in ấn. Chỉ riêng trong hệ ngôn ngữ Anh mới có đến hai từ được sử dụng để chỉ về thể loại tranh in độc bản là “monotype” và “monoprint”. Tuy điều này đôi khi gây sự phức tạp trong tiếp cận và hiểu về nó như đã được trình bày ở trên. Nhưng đó lại là cách gọi để phân biệt sâu hơn hai kỹ thuật của tranh in độc bản mà chỉ ở hệ ngôn ngữ Anh mới có được.

Tuy nhiên, xét cho cùng, kỹ thuật chỉ là phương tiện thể hiện tác phẩm. Quan trọng là chúng ta hiểu được tranh in độc bản là gì. Vẻ đẹp tự thân và chất lượng nghệ thuật của tranh in độc bản mang tính mở - điều có thể dễ dàng tạo hứng thú cho họa sỹ và dẫn tới những cách tân nghệ thuật. Đó mới thực sự là điều cần quan tâm bởi nó chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn đối với nghệ thuật và xã hội.

 

le huy tiep. duoi day. 2003. 40x60cm. ky thuatmonoprint.

Lê Huy Tiếp, Dưới đáy, 2003, 40 x 60cm, kỹ thuật monoprint

 

Chất liệu, nguyên lý kỹ thuật thể hiện và ngôn ngữ tạo hình của tranh in độc bản

Chất liệu tranh in độc bản vô cùng phong phú, có thể nói gần như không giới hạn. Nền in có thể  là giấy, vải, nilong, vỏ cây, da động vật, gelatin… Mực in có thể sử dụng là các loại mực in gốc dầu như mực in offset, sơn dầu, guát, màu nước hay các loại màu được chiết xuất từ thế giới tự nhiên (thực vật, khoáng sản).

Tranh in độc bản được thể hiện dựa trên nguyên lý kỹ thuật in hình ở mức độ đơn giản nhất trực tiếp từ một bề mặt có phủ lớp màu thể chất dạng loãng hay sệt. Hình thức lấy một tờ giấy thấm lượng mực viết thừa trên trang viết hay dùng bàn tay lấm bùn đập lên một bề mặt nào đó chính là biểu hiện thực tế của nguyên lý kỹ thuật in độc bản. Trong sáng tác tranh in, việc đưa màu nước, guát hay mực in lên một bề mặt không thấm nước rồi in ra bằng tay hay bằng máy in nén là quá trình tạo ra bức tranh in độc bản. Điểm khác biệt của phương pháp in độc bản là từ bản in chỉ cho ra đời một tranh duy nhất, không có bản thứ hai hay hơn nữa như các phương pháp in khác.

Tranh in độc bản nằm ở giữa hội họa và đồ họa, vì vậy ngôn ngữ tạo hình của nó rất phong phú, đa dạng, từ những đường nét đồ họa đen trắng đơn giản đến các hình thể vờn khối kỹ lưỡng hay các phối hợp màu sắc nhiều lớp, nhiều sắc độ mà hội họa sở hữu. Sự hấp dẫn của tranh in độc bản nằm ở sự thông quang có một không hai của màu in trên giấy - điều làm nên chất lượng của các sắc độ sáng trong tranh rất khác so với việc vẽ cũng thứ màu đó trên giấy hay các loại tranh in khác. Ngoài ra, vẻ đẹp của thể loại tranh (phương tiện nghệ thuật) này còn được bộc lộ rõ trong tính tự do, ngẫu hững của đường nét, mảng màu cũng như sự tổng hòa các đặc tính của hội họa và đồ họa. Tranh in độc bản là kết quả tổng hợp của trò chơi ngẫu hứng màu sắc của mực in và giấy, qua đó tạo ra bề mặt in ấn của tranh hết sức độc đáo mà các phương tiện, kỹ thuật hội họa hay đồ họa khác không có được.              

                N.N.P

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số 10/2013)

Copyright © 2014 Hội Luật gia Việt Nam

Viện Nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN

Tầng 3, Tòa tháp Ngôi sao (Star Tower), đường Dương Đình Nghệ, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Email: vienaseanvn@gmail.com * Điện thoại: 04 62634949

Powered by NetLink Tech